Những chính sách giáo dục có hiệu lực từ tháng 9/2026

Loạt chính sách mới của giáo dục có hiệu lực từ năm học mới như áp dụng khung trình độ mới, quy định dành cho giáo viên về hưu...

 Thí sinh dự thi tốt nghiệp THPT. Ảnh minh họa: Phương Lâm.

Thí sinh dự thi tốt nghiệp THPT. Ảnh minh họa: Phương Lâm.

Từ tháng 9/2026, nhiều chính sách mới trong lĩnh vực giáo dục bắt đầu có hiệu lực. Theo đó, từ năm học mới này, nhà giáo về hưu có thể tiếp tục đứng lớp, quy trình xây dựng chương trình giáo dục đại học cũng có một số thay đổi.

Nhà giáo nghỉ hưu có thể tiếp tục giảng dạy

Từ ngày 1/9/2026, Thông tư 59/2026/TT-BGDĐT chính thức có hiệu lực, cho phép nhà giáo đã nghỉ hưu tiếp tục tham gia giảng dạy theo hợp đồng toàn thời gian hoặc hình thức thỉnh giảng.

Theo quy định, hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu là thỏa thuận lao động giữa cơ sở giáo dục và nhà giáo sau khi nghỉ hưu, được xác lập dưới hình thức hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật.

Việc ký hợp đồng phải bảo đảm các nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, công khai, minh bạch, phù hợp với nhu cầu phát triển đội ngũ của cơ sở giáo dục và không ảnh hưởng đến kế hoạch tuyển dụng, đào tạo đội ngũ kế cận.

Để được ký hợp đồng toàn thời gian, nhà giáo phải có phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp tốt; không trong thời hạn bị xử lý kỷ luật, không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang chấp hành hình phạt khác.

Người được tuyển dụng cũng phải đáp ứng tiêu chuẩn sức khỏe, trình độ đào tạo, năng lực nghề nghiệp theo yêu cầu của vị trí việc làm và có khả năng ứng dụng công nghệ số vào giảng dạy.

Bên cạnh hợp đồng toàn thời gian, nhà giáo đã nghỉ hưu có thể tiếp tục giảng dạy theo hình thức thỉnh giảng. Đây là hoạt động của người được cơ sở giáo dục mời thực hiện nhiệm vụ giảng dạy ít nhất một môn học, mô-đun, học phần, chuyên đề hoặc nội dung trong chương trình giáo dục, đào tạo và các hoạt động chuyên môn khác liên quan trực tiếp quá trình giáo dục, đào tạo.

Hệ thống giáo dục quốc dân được phân thành 9 cấp độ

Từ ngày 7/9/2026, Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân mới theo Quyết định 38/2026/QĐ-TTg được áp dụng. Trong đó, các chương trình giáo dục được phân thành 9 cấp độ, từ cấp độ 0 đến cấp độ 8.

Việc phân cấp được thực hiện dựa trên các tiêu chí gồm mục tiêu chương trình, mức độ phức tạp của nội dung học tập, yêu cầu đầu vào, kết quả học tập dự kiến và khả năng chuyển tiếp trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Theo đó, cấp độ 0 là chương trình giáo dục mầm non; cấp độ 1 gồm chương trình giáo dục tiểu học và chương trình xóa mù chữ dành cho người chưa hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học. Cấp độ 2 là chương trình giáo dục THCS và các chương trình tương đương. Cấp độ 3 gồm chương trình THPT, chương trình tương đương và chương trình đào tạo trình độ sơ cấp.

Cấp độ 4 tương ứng với chương trình đào tạo trình độ trung cấp, cấp độ 5 là trình độ cao đẳng, cấp độ 6 là trình độ đại học, cấp độ 7 là trình độ thạc sĩ và cấp độ 8 là trình độ tiến sĩ.

Đối với chương trình giáo dục tích hợp nhiều cấp học hoặc trình độ đào tạo, chương trình được xếp vào cấp độ tương ứng với cấp học và trình độ đào tạo cao nhất. Mỗi chương trình giáo dục được xác định bằng mã chương trình và phân loại theo quy định tại phụ lục ban hành kèm theo quyết định.

 Giáo viên tại TP.HCM. Ảnh minh họa: Khương Nguyễn.

Giáo viên tại TP.HCM. Ảnh minh họa: Khương Nguyễn.

Khung trình độ quốc gia Việt Nam được đổi mới

Còn từ ngày 7/9/2026, Khung trình độ quốc gia Việt Nam mới theo Quyết định 39/2026/QĐ-TTg có hiệu lực, gồm 8 bậc trình độ từ bậc 1 đến bậc 8.

Các bậc trình độ được sắp xếp theo mức độ tăng dần về độ phức tạp của kiến thức, kỹ năng và mức độ tự chủ, trách nhiệm cá nhân của người học. Mỗi bậc được mô tả dựa trên ba thành phần là kiến thức, kỹ năng và mức độ tự chủ, trách nhiệm cá nhân.

Ở bậc 1, người học có năng lực thực hiện các nhiệm vụ, công việc đơn giản, lặp lại theo quy trình hoặc hướng dẫn dưới sự giám sát trực tiếp. Bậc 2 yêu cầu khả năng thực hiện, giải quyết một hoặc một số công việc cơ bản của một nghề dưới sự giám sát chung. Bậc 3 thể hiện năng lực thực hiện thành thạo các công việc của ngành, nghề trong điều kiện tương đối ổn định và môi trường quen thuộc.

Từ bậc 4, người học phải có khả năng thực hiện và giải quyết công việc trong điều kiện có thay đổi. Bậc 5 yêu cầu khả năng giải quyết những công việc phức tạp, khó dự báo trước của ngành, nghề. Ở bậc 6, người học có khả năng vận dụng kiến thức toàn diện và tư duy phản biện để phân tích, tổng hợp và giải quyết các vấn đề phức tạp trong bối cảnh nghề nghiệp đa dạng.

Bậc 7 thể hiện năng lực làm chủ kiến thức nâng cao, có khả năng nghiên cứu, phát triển và vận dụng tri thức chuyên sâu. Ở bậc 8, người học cần có năng lực sáng tạo tri thức mới, phát triển học thuyết hoặc phương pháp mới hoặc giải quyết các vấn đề thực tiễn của lĩnh vực chuyên môn và xã hội.

Thay đổi quy trình xây dựng chương trình giáo dục đại học

Từ ngày 12/9/2026, Thông tư 62/2026/TT-BGDĐT có hiệu lực. Thông tư này quy định quy trình biên soạn, ban hành chương trình, giáo trình dạy và học các môn học, học phần bắt buộc sử dụng chung trong chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học.

Cụ thể, chương trình phải bảo đảm mục tiêu, chuẩn đầu ra, khối lượng học tập, nội dung kiến thức cốt lõi, phương pháp giảng dạy, kiểm tra, đánh giá và điều kiện bảo đảm chất lượng. Chương trình cũng phải bảo đảm tính khả thi và phù hợp với các quy định pháp luật hiện hành.

Quá trình biên soạn, thẩm định và ban hành phải bảo đảm tính khách quan, minh bạch và khoa học. Ban soạn thảo gồm giảng viên, nhà khoa học, chuyên gia, cán bộ quản lý có chuyên môn phù hợp, cùng đại diện tổ chức nghề nghiệp, đơn vị sử dụng lao động và cơ quan quản lý có liên quan nếu có.

Sau khi xây dựng dự thảo, chương trình phải được lấy ý kiến các cơ sở đào tạo, chuyên gia và cơ quan quản lý có liên quan. Dự thảo cũng phải được công khai trên cổng thông tin điện tử của cơ quan được giao biên soạn, ban hành chương trình.

Ban soạn thảo có trách nhiệm tổng hợp, tiếp thu và giải trình các ý kiến góp ý. Trước khi ban hành, dự thảo chương trình phải được Hội đồng thẩm định xem xét, đánh giá. Căn cứ kết quả thẩm định, cơ quan được giao biên soạn, ban hành chương trình quyết định việc ban hành.

Phân định lại thẩm quyền công nhận văn bằng

Từ ngày 26/9/2026, thẩm quyền công nhận văn bằng nước ngoài được phân định theo trình độ đào tạo. Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng thuộc Bộ GD&ĐT có thẩm quyền công nhận văn bằng giáo dục nghề nghiệp và văn bằng giáo dục đại học.

Đối với bằng tốt nghiệp THCS, bằng tốt nghiệp THPT và chứng nhận hoàn thành chương trình giáo dục phổ thông, thẩm quyền công nhận thuộc giám đốc Sở GD&ĐT.

Kết quả công nhận văn bằng được thể hiện trên Giấy công nhận văn bằng dưới dạng văn bản giấy, văn bản điện tử hoặc văn bản số và có giá trị như nhau. Dữ liệu công nhận văn bằng được cập nhật vào cơ sở dữ liệu về công nhận văn bằng.

Đáng chú ý, thông tin tra cứu từ cơ sở dữ liệu hoặc hiển thị trên ứng dụng VNeID có giá trị xác minh thay cho việc cơ quan có thẩm quyền xác minh bằng văn bản. Quy định này góp phần đẩy mạnh số hóa quá trình công nhận và xác minh văn bằng nước ngoài tại Việt Nam.

Thái An

Nguồn Znews: https://lifestyle.zingnews.vn/nhung-chinh-sach-giao-duc-co-hieu-luc-tu-thang-92026-post1680232.html