Ký ức tháng Tư
Tháng Tư, đất nước trọn niềm vui thống nhất. Trong dòng chảy ký ức ấy, có những con người bình dị: cựu chiến binh, cựu TNXP, vẫn lặng lẽ giữ trong tim mình một 'bản đồ ký ức' không phai. Họ là những nhân chứng của một thời hoa lửa, nơi sự sống và cái chết chỉ cách nhau gang tấc, nơi tuổi trẻ được gửi lại phía sau để đổi lấy độc lập, tự do cho Tổ quốc.
Một thời hoa lửa
Buổi chiều tháng Tư, trong căn nhà nhỏ ở xã Yên Phú, bà Trần Thị Ngoan bắt đầu câu chuyện đời mình từ một buổi chiều năm 1965, ngày bà trốn gia đình đi TNXP, mang theo trái tim đầy nhiệt huyết của tuổi 18 “Ngày ấy, chỉ nghĩ đơn giản: đất nước cần thì mình đi thôi” bà kể.

Đại đội 932, Đội 81 TNXP Quảng Bình ra hiện trường làm nhiệm vụ, nơi bà Trần Thị Ngoan từng tham gia.
Từ Tam Bạc (Hải Phòng), Lai Vu, Phú Lương (Hải Dương), đến cầu Hàm Rồng, Tào Xuyên (Thanh Hóa), lực lượng TNXP khi ấy liên tục cơ động theo lệnh điều động của cấp trên, bước chân người con gái trẻ đã đi qua những điểm nóng khốc liệt. Bom rơi, cầu sập, đất đá tung lên, nhưng ngay sau đó là những bàn tay lại vội vã lấp hố bom, giữ cho mạch máu giao thông thông suốt. “Có những hôm vừa san xong, máy bay quay lại trút bom, tất cả lại lao ra mặt đường, giành giật từng phút để thông tuyến…”, bà nhớ lại.
Năm 1968, bà vào Trường Sơn. Đường 20 Quyết Thắng (Quảng Bình), nơi “15 phút lại có bom” đã trở thành một phần ký ức. Giữa mưa bom, những cô gái TNXP vẫn thoăn thoắt làm đường, dẫn lối cho những đoàn xe chở lương thực, thuốc men vào chiến trường. Một ký ức khác, nhói lòng hơn: năm 1966, khi bà nhận tin mẹ mất. Trở về, bà đã không kịp chịu tang mẹ “Chiến tranh là thế, có những mất mát không gì có thể bù đắp được”.
Năm 2022, được trở về thăm những địa danh thân thương gắn với cả thời tuổi trẻ của mình như: Quảng Bình, Quảng Trị, Ngã ba Đồng Lộc, Nghĩa trang Trường Sơn, Nghĩa trang đường 9, Thành cổ Quảng Trị... thắp cho đồng đội nén hương, bà khóc lặng: “Đồng đội tôi xanh mãi một khoảng trời con gái…”.
Câu chuyện của ông Nguyễn Mạnh Thắng, Chủ tịch Hội Cựu TNXP phường An Tường, mở ra “bản đồ ký ức” từ miền núi phía Bắc đến tuyến lửa miền Trung. Giai đoạn 1966 - 1969, ông cùng đồng đội mở đường, bạt núi, làm đường tránh phà Bợ; ấn tượng nhất là tuyến Chiêm Hóa - Linh Đức, nơi con người phải treo mình giữa vách đá, dùng choòng để đục lỗ đặt mìn.
Nhưng chính trong gian khó, sáng kiến lại nảy sinh: đơn vị ông đã ghép tre thành máng trượt đá giúp giảm bớt nguy hiểm khi bạt sườn đèo. Mỗi đoạn đường hoàn thành đều là kết tinh của mồ hôi, máu và ý chí. Năm 1968, ông Thắng vào bộ đội, trở thành chiến sĩ pháo cao xạ 214 Sông Gianh, binh chủng Phòng không Không quân, bảo vệ tuyến vận tải chiến lược từ Đèo Ngang đến Vĩnh Linh và bến phà Xuân Sơn. Những ngày ở bến phà Long Đại, ông nhớ lại: “Chỉ sau 7 ngày bom dội, cả một khu rừng rậm đã không còn một ngọn cỏ”. “Có những ngày, trên thì máy bay quần thảo từ sáng đến đêm, ngoài thì tàu chiến bắn vào như trút. Chúng tôi phải thay phiên nhau ngủ và trực chiến, đảm bảo con đường được thông suốt, giữ vững tuyến vận tải mạch máu của miền Bắc chi viện cho chiến trường miền Nam. Khi đó, ai cũng hiểu: mỗi tấn hàng là một phần sinh mệnh của chiến trường”.
Năm 1972, bị thương, ông Thắng rời chiến trường. Trở về đời thường, ông lặng lẽ làm việc, nhưng ký ức thì vẫn ở đó, như một lời nhắc nhở sâu sắc: “Độc lập không bao giờ là điều tự nhiên mà có”.
Độc lập không tự nhiên mà có
Nếu ký ức của TNXP là những con đường mở giữa bom rơi, thì ký ức của người lính là những bước chân trực diện nơi tuyến lửa.
Cựu chiến binh Vũ Hoài Nam, phường Hà Giang 2, nhập ngũ năm 1974 khi còn chưa đủ tuổi. Từ Phủ Lý (Hà Nam), ông được biên chế vào Trung đoàn 165, Sư đoàn 7, Quân đoàn 4, chiến đấu tại chiến trường Đông Nam Bộ, tham gia nhiều trận đánh lớn trước thềm Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Trận đánh đầu tiên ở điểm cao 125, Phương Lâm (Định Quán, Đồng Nai) với ông là ký ức không thể quên “Lần đầu ra trận, cũng run. Địch bắn cấp tập, đơn vị phải dùng bộc phá ống, đánh phá từng hàng rào kẽm gai của địch. Đồng đội hy sinh nhiều lắm…” ông kể. Sau trận ấy, người lính trẻ nhanh chóng trưởng thành “Đã ra trận rồi thì không còn sợ nữa. Chỉ còn nhiệm vụ”.

Lãnh đạo Tỉnh đoàn trao tặng kinh phí hỗ trợ xây nhà cho hội viên cựu TNXP có hoàn cảnh khó khăn tại xã Hòa An.
Trận Xuân Lộc (Long Khánh), “cánh cửa thép” bảo vệ Sài Gòn kéo dài 11 ngày đêm ác liệt. Địch dồn toàn bộ hỏa lực mạnh nhất, từ pháo binh, không quân đến lực lượng lính dù tinh nhuệ quyết giữ bằng được Xuân Lộc. Đơn vị ông được tăng cường 4 xe tăng T54, nhưng sau thời gian chiến đấu, phần lớn bị bắn cháy, quân số hao hụt. Dẫu vậy, đội hình vẫn giữ vững ý chí, được bổ sung lực lượng, hiệp đồng cùng các đơn vị bạn tiến công, đập tan phòng tuyến Xuân Lộc, buộc địch rút chạy về Biên Hòa, Bà Rịa - Vũng Tàu.
Khoảnh khắc trưa 30/4/1975 trở thành ký ức thiêng liêng nhất trong cuộc đời quân ngũ của ông “Khi tiến vào Sài Gòn, thấy xe tăng của các đơn vị bạn, thấy Nhân dân đứng hai bên đường, cờ hoa rợp trời, tôi xúc động không nói nên lời. Bao nhiêu mất mát cuối cùng cũng đến ngày này”, ông chia sẻ.
Sau ngày đất nước thống nhất, ông tiếp tục ở lại Sài Gòn làm nhiệm vụ quân quản rồi sang giúp nước bạn Campuchia và bảo vệ biên giới phía Bắc “Trở về đời thường, ký ức chiến tranh vẫn là lời nhắc nhở lặng thầm: “Phải sống sao cho xứng đáng với những người đã nằm lại”.
Một hành trình khác, khốc liệt và dữ dội, là câu chuyện của cựu chiến binh Nguyễn Đức San, tổ dân phố Chè 6, xã An Tường. Nhập ngũ khi mới 17 tuổi, từ xã Cấp Tiến (Sơn Dương), ông tình nguyện ra chiến trường. Từ cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng (Lào) đến Tây Nguyên, rồi tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, ông đi qua những trận đánh mà, theo lời ông “mỗi phút đều có thể là phút cuối”.
Tháng 11/1974, ông là Đại đội trưởng Đại đội 9, Tiểu đoàn 14, Trung đoàn pháo 187, Sư đoàn 316, chỉ huy đơn vị pháo 85 mm gồm 4 khẩu pháo nòng dài, tầm bắn trên 15 km, cùng lực lượng trinh sát, thông tin, quân y, quân giới bảo đảm chiến đấu. Nhắc về chiến trường, ông không quên những trận bom B-52 ám ảnh: “Chỉ vài phút thôi, cả tiểu đoàn hàng trăm người ngã xuống…”. Giữa chiến trường khốc liệt, chỉ trong một trận đánh, ông từng bắn hạ vài chục mục tiêu ở cự ly gần, giữ vững trận địa trong thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Nhưng ký ức sâu đậm nhất vẫn là ngày toàn thắng “Ngày 30/4, nhận tin giải phóng, anh em chúng tôi chỉ biết ôm nhau mà khóc. Lúc ấy, ai cũng nghĩ: mình còn sống, vậy là đủ rồi”.
Sau chiến tranh, ông tiếp tục tham gia bảo vệ biên giới phía Bắc, rồi trở thành giảng viên quân sự Trường Quân chính Quân khu 2. Ba lần bị thương, mang di chứng chất độc da cam, con gái cũng chịu ảnh hưởng, nhưng ông chỉ nói giản dị: “Được góp một phần nhỏ bé cho đất nước là vinh dự”.
Giữa những câu chuyện ấy, có một điểm chung lặng lẽ mà sâu sắc, những cựu TNXP, cựu chiến binh, họ không nói nhiều về mình, nhưng chính cách họ đi qua chiến tranh đã làm nên dáng hình của Tổ quốc “Chiến tranh không chỉ có chiến thắng. Nó còn là mất mát. Nhưng nếu được chọn lại, chúng tôi vẫn sẽ đi. Vì đó là Tổ quốc”.
Những ký ức ấy không chỉ để nhớ, mà để hiểu. Hiểu rằng hòa bình là điều quý giá đến nhường nào. Những người lính năm xưa đã đi qua chiến tranh, mang theo cả những mất mát không thể gọi tên. Họ trở về, lặng lẽ sống, như những con đường từng mở, âm thầm mà vững chãi.
Tháng Tư lại về, lặng lẽ mà thiêng liêng. Những ký ức năm xưa không chỉ để nhớ, mà để soi chiếu hôm nay. Mỗi tấc đất bình yên là máu xương gửi lại. Để mỗi bước chân hôm nay đi giữa bình yên, đều mang theo một khoảng lặng biết ơn không thể gọi thành lời.
Nguồn Tuyên Quang: http://baotuyenquang.com.vn/xa-hoi/202604/ky-uc-thang-tu-a5e3d6c/











