Kỳ II: Đổi mới tổ chức sản xuất
PTĐT - Những năm qua, Phú Thọ đã khai thác tiềm năng, lợi thế phát triển cây chè chung cấp, đa dạng các sản phẩm chè cho thị trường trong nước và xuất khẩu, đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế-xã hội ...

Sản xuất chè xanh đã đem lại nguồn thu nhập chính cho người dân xã Yên Kỳ, huyện Hạ Hòa.
>>> Kỳ I: Những lợi thế riêng cóPTĐT - Những năm qua, Phú Thọ đã khai thác tiềm năng, lợi thế phát triển cây chè chung cấp, đa dạng các sản phẩm chè cho thị trường trong nước và xuất khẩu, đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh. Tuy nhiên, sản phẩm chè vẫn chủ yếu là chè đen phục vụ xuất khẩu, sản phẩm thô dưới dạng nguyên liệu, sản phẩm chè xanh chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và truyền thống sản xuất, vì vậy cần đổi mới tổ chức sản xuất để xây dựng thương hiệu chè xanh Phú Thọ.
Cùng với mở rộng diện tích, tăng sản lượng chè, tỉnh đã thực hiện tái cơ cấu ngành chè, tiến hành rà soát, sắp xếp và tổ chức sản xuất, chế biến chuyên sâu; quy hoạch huyện vùng trọng điểm chè. Đến nay, trên địa bàn tỉnh có 55 cơ sở chế biến chè có công suất trên 1 tấn búp tươi/ngày, trong đó Sở Khoa học và Công nghệ đã hỗ trợ 15 doanh nghiệp vừa và nhỏ đổi mới công nghệ sao, sấy, phân loại chè trong chế biến chè xanh, chè đen theo hướng đồng bộ, hiện đại. Trên địa bàn tỉnh còn có 14 HTX, 18 làng nghề, 1 trang trại và gần 900 cơ sở chế biến thủ công, nhỏ lẻ. Một số nhà máy đã liên kết sản xuất với các HTX, nhóm hộ trồng chè, đảm bảo nguồn nguyên liệu ổn định, kiểm soát được chất lượng chè thành phẩm. Bên cạnh vùng nguyên liệu chế biến chè đen, bước đầu đã hình thành các vùng nguyên liệu chế biến chè xanh. Việc sản xuất chè xanh đã góp phần đáng kể, nâng cao thu nhập cho người dân vùng chè.
Ở Tân Sơn, cây chè có lịch sử lâu đời và trở thành ngành hàng hóa từ khi có Nông trường quốc doanh Phú Sơn, sau đó thành lập Khu kinh tế Thanh Niên, nay đổi tên thành Xí nghiệp chè Thanh Niên, ở xã Minh Đài. Đến nay, diện tích chè của toàn huyện trên 3.800ha, trong đó các xã trồng nhiều nhất huyện là Văn Luông với gần 1.100ha, xã Mỹ Thuận 560ha, Long Cốc gần 700ha. Riêng xã Minh Đài có 560ha, trong đó trên 400ha do người dân canh tác, còn lại là diện tích chè của Xí nghiệp chè Thanh Niên.Trò chuyện với chúng tôi bên ấm trà nóng, ông Phạm Xuân Vinh, khu Đồng Tâm, xã Minh Đài - người đã có gần 40 năm gắn bó với cây chè ở Xí nghiệp chè Thanh Niên chia sẻ: “Là công nhân Xí nghiệp từ năm 1983, tôi đã gắn bó cây chè nhiều năm nên hàng ngày luôn thấy vấn vương hương chè thơm tỏa, đọng lại trong suy nghĩ. Cùng thời gian, cây chè chứng kiến bao thăng trầm cùng những đổi thay xã hội. Ngay trên vùng đất lô nhô từng ngọn đồi bát úp, có những người vì chè mà nhiều đêm không ngủ, nghĩ suy để phôi thai, hình thành nên cơ sở sản xuất chè mang thương hiệu chè đặc sản Bát Tiên bây giờ”. Đón chén trà sóng sánh màu xanh từ tay ông Vinh, tôi vừa nhâm nhi vừa quan sát kỹ và tìm câu trả lời làm sao để có được những sản phẩm chè ngon như vậy. Ông Vinh cho biết: Nếu làm chè xanh có chất lượng phải làm bằng giống chè trung du, vì giống chè này khi pha nước có màu xanh, mùi thơm nhẹ, vị ngọt. Do đó, tôi đã trồng 1ha chè giống Bát Tiên, mỗi năm sản xuất được 1,2 tấn chè khô, giá bán 300.000 đồng/kg, thu nhập mỗi năm từ chè khoảng 200 triệu đồng. Để sản phẩm có chất lượng, cơ sở sản xuất chú trọng từ khâu chọn giống đến sản xuất và chế biến. Đến nay, sản phẩm chè của tôi cùng hộ ông Lê Hữu Thiện, khu Minh Thanh đã xây dựng được thương hiệu chè đặc sản Bát Tiên và đã được quảng bá sản phẩm du lịch nằm trong tuyến du lịch Xuân Sơn.Những năm qua, tỉnh cũng đã có nhiều chính sách khuyến khích đẩy mạnh liên kết sản xuất, hợp tác giữa doanh nghiệp, HTX với người trồng chè, thực hiện ký kết hợp đồng liên kết thu mua chè búp tươi làm nguyên liệu chế biến chè xanh. Cùng với chế biến, các doanh nghiệp, HTX đặc biệt chú trọng đến xây dựng thương hiệu, nhờ vậy toàn tỉnh đã có 5 doanh nghiệp xây dựng nhãn hiệu, thương hiệu sản phẩm được bảo hộ sở hữu trí tuệ, 5 HTX và làng nghề sản xuất, chế biến chè xanh chất lượng cao. Sản phẩm chè xanh Yên Kỳ- Hạ Hòa, chè xanh Phú Thịnh- thị xã Phú Thọ, chè xanh Chùa Tà- Phù Ninh, chè xanh Dốc Đen- Thanh Ba… đã xây dựng được nhãn hiệu tập thể. HTX dịch vụ nông nghiệp nông thôn Đông Lĩnh, huyện Thanh Ba là một trong những điển hình về phát triển và xây dựng thương hiệu chè. Đến nay, HTX đã quy hoạch được vùng sản xuất chè với diện tích 20ha, sản lượng hàng năm đạt hơn 10 tấn chè búp tươi. Ông Trần Văn Ba - Phó Giám đốc HTX, Tổ trưởng Tổ sản xuất chè xanh Dốc Đen chia sẻ, trước đây người dân sản xuất chè tự phát, mạnh ai người ấy làm, người dân trồng những giống cũ, sản phẩm là chè búp tươi bán cho các thương lái nên thu nhập thấp, diện tích ngày càng bị thu hẹp. Đến năm 2006, được sự giúp đỡ của các cấp, các ngành trong tỉnh, làng nghề sản xuất, chế biến chè Dốc Đen chính thức được công nhận. Từ đó, HTX đã tổ chức cho các hộ học tập kinh nghiệm tại một số đơn vị sản xuất chè có uy tín; mở các lớp tập huấn để người dân tham gia vào quy trình sản xuất chè sạch, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, cũng như cách trồng, chăm sóc theo tiêu chuẩn VietGAP. Hiện nay, sản phẩm chè xanh Dốc Đen đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp văn bằng bảo hộ; chứng nhận nhãn hiệu tập thể, tạo căn cứ pháp lý quan trọng, khẳng định giá trị thương hiệu cho chè xanh Dốc Đen và là cơ hội thuận lợi để phát huy lợi thế cạnh tranh trên thị trường, tăng giá trị kinh tế cho người sản xuất, chế biến chè xanh của xã Đông Lĩnh, gia tăng giá trị của sản phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao lợi thế cạnh tranh của sản phẩm, mang lại lợi nhuận cao cho bà con vùng sản xuất, thúc đẩy kinh tế địa phương ngày càng phát triển. Hiện toàn xã có khoảng trên 200ha chè. Để nâng cao hiệu quả, thành viên HTX tích cực phát triển diện tích cây chè, thay thế các giống chè cũ, cằn cỗi, kém hiệu quả bằng các giống có chất lượng cao. Từ khi được công nhận nhãn hiệu tập thể chè xanh Dốc Đen, các thành viên luôn nhận thức muốn có thương hiệu bền vững thì việc thực hiện đúng quy trình sản xuất chè sạch, an toàn vệ sinh thực phẩm phải được đặt lên hàng đầu. Các hộ ngày càng chú trọng quy trình sản xuất từ khâu chăm sóc, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm. Ý thức của người dân trong việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật được thay đổi đáng kể thông qua việc sử dụng sổ ghi chép, theo dõi chặt chẽ hằng ngày, bảo đảm sức khỏe người tiêu dùng. Nhờ đó, giá trị và hiệu quả kinh tế của cây chè được nâng lên rõ rệt.Trên địa bàn tỉnh hiện đã có một số doanh nghiệp tham gia chế biến sâu, kết hợp với xây dựng thương hiệu sản phẩm như: Công ty TNHH MTV Thế hệ mới Phú Thọ cung cấp ra thị trường sản phẩm chè túi lọc, nước trà đóng hộp- đóng chai; bột trà xanh Matcha… Tuy nhiên, quy mô sản xuất còn khá manh mún, nhận thức của một số hộ trồng chè về sản xuất nông nghiệp hàng hóa và vệ sinh an toàn thực phẩm còn hạn chế. Quy hoạch vùng nguyên liệu gắn với các giống chè chất lượng cao để phục vụ sản xuất chè xanh còn khiêm tốn; hầu như các cơ sở chế biến sản phẩm xuất khẩu dưới dạng thô, không có nhãn mác, thương hiệu nên giá thành thấp. Một số HTX đã có sản phẩm chè xanh đóng gói, hút chân không nhưng phần lớn bao bì, nhãn mác còn đơn điệu, chất lượng chưa cao, số lượng hạn chế, chủ yếu phục vụ nội tiêu, giá trị thấp… Vì vậy, xây dựng thương hiệu chè xanh Phú Thọ cần thực hiện đồng bộ các giải pháp để khắc phục tình trạng trên.
Kỳ III: Các giải pháp căn cơ, đồng bộ
Nguồn Phú Thọ: http://baophutho.vn/kinh-te/202011/ky-ii-doi-moi-to-chuc-san-xuat-173783








