Kỳ 1: Làm giàu từ biển

Có những ranh giới trên biển không hiện trên bản đồ, nhưng luôn tồn tại trong mỗi chuyến đi của người ngư dân.

Biển chưa bao giờ là con đường dễ làm giàu, khi mỗi chuyến ra khơi luôn đứng giữa hai khả năng, là đầy khoang hoặc trắng tay. Trong nhiều năm, không ít ngư dân đi biển như một cuộc đánh cược. Nhưng khi nguồn lợi giảm, chi phí tăng, cách làm cũ dần bộc lộ giới hạn. Làm giàu từ biển, vì thế, không còn nằm ở việc đi xa hơn mà ở chỗ làm khác đi.

Trời vừa hửng sáng, cảng cá Phan Thiết (phường Phan Thiết, tỉnh Lâm Đồng) đã rộn ràng. Những con tàu nối nhau vào bờ, khoang cá lấp lánh dưới ánh nắng đầu ngày, nước biển còn nhỏ giọt trên boong, mùi mặn quyện trong gió.

Cửa biển Phan Rí Cửa

Cửa biển Phan Rí Cửa

Nhìn từ xa, đó là một bức tranh trù phú. Nhưng với những người gắn bó cả đời với biển, đằng sau vẻ nhộn nhịp ấy luôn tồn tại một thực tế khác, nghề biển chưa bao giờ hết bấp bênh.

Trên mũi tàu, ông Nguyễn Hữu Thanh (phường Phan Thiết) chậm rãi vuốt lại lá cờ Tổ quốc vừa thay mới.

Ngư dân Nguyễn Hữu Thanh, phường Phan Thiết

Hơn nửa đời gắn bó với biển, ông hiểu rất rõ ranh giới mong manh giữa “được mùa” và “trắng tay”, “Ngày trước đi biển là đánh cược” - ông nói, giọng chắc nhưng không giấu được sự từng trải.

Khởi đầu từ chiếc ghe nhỏ 75CV, những chuyến ra khơi đầu tiên của ông gần như phụ thuộc hoàn toàn vào kinh nghiệm truyền đời và… may mắn. Không có máy móc hỗ trợ, không định vị, không thông tin ngư trường, mỗi chuyến đi là một canh bạc thực sự. Có chuyến đầy khoang nhưng cũng không ít lần trở về tay trắng, tiền dầu không đủ bù chi phí.

Ngư dân Nguyễn Hữu Thanh, phường Phan Thiết

Ngư dân Nguyễn Hữu Thanh, phường Phan Thiết

Chính những lần “trắng tay” đó đã buộc ông phải nghĩ khác. Ông bắt đầu tích góp, nâng cấp tàu, đầu tư máy tầm ngư, thiết bị định vị, hệ thống liên lạc. Từ chỗ “đi biển theo cảm giác”, ông chuyển sang “đi biển có tính toán”. “Bây giờ đi biển phải tính hết, tính ngư trường, tính chi phí, tính cả rủi ro. Không tính thì không sống được với biển”, ông nói.

Tàu thuyền ở Cảng Phan Rí Cửa

Tàu thuyền ở Cảng Phan Rí Cửa

Sự thay đổi ấy không chỉ giúp những chuyến biển của ông ổn định hơn, mà còn mở ra một cách nhìn khác về nghề biển: không phải là cuộc đánh cược với thiên nhiên, mà là một hoạt động kinh tế cần tri thức và tính toán.

Từ mưu sinh, ông dần tích lũy, tạo việc làm cho nhiều lao động bạn thuyền, trở thành một trong những hộ sản xuất, kinh doanh giỏi. Dù ngư trường có lúc khó khăn nhưng biết tính toán, chịu đầu tư công nghệ cho tàu cá, hằng năm, ông Thanh đều thu về hàng trăm triệu đồng.

Cảng cá Phan Thiết

Cảng cá Phan Thiết

Thế nhưng không phải ai cũng có điều kiện đầu tư tàu lớn hay vươn khơi dài ngày. Với nhiều ngư dân, ranh giới không chỉ là “đi hay không đi”, mà là “ở lại hay buông bỏ”. Tại xã Phan Rí Cửa (tỉnh Lâm Đồng), ông Võ Mao từng có gần 40 năm lênh đênh trên biển. Ông hiểu từng con sóng, từng thao tác trên tàu. Nhưng rồi ông nhận ra một điều khác: Không phải ai cũng ra khơi… mới sống được nhờ biển.

Cá về cảng

Cá về cảng

Năm 2009, ông quyết định rời tàu, mở xưởng sản xuất dây thừng, là một vật dụng tưởng nhỏ nhưng lại là yếu tố sống còn trong mỗi chuyến biển. “Dây mà không chắc, gặp sóng gió là nguy hiểm lắm”, ông nói. 3 năm đầu, xưởng liên tục thất bại. Sản phẩm không đạt yêu cầu, khách không tin tưởng nhưng ông không bỏ cuộc. Ông quay lại chính ký ức của mình khi còn vươn khơi bám biển, loại dây nào chịu lực tốt, loại nào phù hợp từng nghề, từng công đoạn. Từ đó, ông mày mò cải tiến, thử nghiệm, tự chế máy móc. “Làm cái này cũng giống đi biển, phải hiểu thì mới làm được”, ông cười.

Xưởng nhỏ dần ổn định, đơn hàng tăng, tạo việc làm cho nhiều lao động địa phương. Từ một người “đối mặt với sóng”, ông trở thành người “giữ an toàn” cho các con tàu khác bằng những sợi dây bền chắc.

Ở đây, một ranh giới khác hiện ra, đó là không phải rời biển là mất nghề mà là chuyển cách khác để gắn với biển.

Ngư dân thay cờ Tổ quốc mới trên tàu cá

Ngư dân thay cờ Tổ quốc mới trên tàu cá

Nếu ở cấp cá nhân, sự thay đổi giúp một người thoát khỏi cảnh bấp bênh, thì ở cấp cộng đồng, việc tổ chức lại sản xuất đã tạo ra bước chuyển rõ rệt.

Toàn cảnh đảo Phú Quý thuộc Đặc khu Phú Quý, nhìn từ phía Nam

Toàn cảnh đảo Phú Quý thuộc Đặc khu Phú Quý, nhìn từ phía Nam

Tại Phú Quý, biển không còn là những chuyến đi riêng lẻ, mà đã trở thành một hệ thống kinh tế có tổ chức và liên kết chặt chẽ. Theo thống kê của địa phương, toàn đặc khu hiện có 1.735 tàu cá với hơn 7.540 lao động, trong đó có hàng trăm tàu công suất lớn và tàu dịch vụ hậu cần hoạt động thường xuyên trên các ngư trường xa bờ.

Một thay đổi quan trọng là 100% tàu cá đủ điều kiện đã lắp thiết bị giám sát hành trình, giúp kiểm soát hoạt động khai thác, bảo đảm tuân thủ quy định và đặc biệt là chấm dứt tình trạng vi phạm vùng biển nước ngoài. Điều này không chỉ giúp ngư dân yên tâm bám biển mà còn góp phần nâng cao uy tín nghề cá địa phương.

Tàu thuyền đánh bắt hải sản ở Phú Quý

Tàu thuyền đánh bắt hải sản ở Phú Quý

Ngư dân Võ Văn Sơn chia sẻ: Trước đây, việc đánh bắt chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, phụ thuộc nhiều vào may rủi. Nhưng hiện nay, nhờ sự hỗ trợ của chính quyền và việc ứng dụng công nghệ, tàu cá được trang bị máy móc hiện đại, giúp xác định ngư trường, giảm chi phí và tăng hiệu quả khai thác. Quan trọng hơn, việc luôn giữ kết nối với đất liền giúp mỗi chuyến biển an toàn hơn.

Nuôi trồng thủy sản ở Đặc khu Phú Quý

Nuôi trồng thủy sản ở Đặc khu Phú Quý

Không chỉ dừng ở khai thác, Phú Quý còn phát triển mạnh nuôi trồng thủy sản theo hướng bài bản. Toàn đặc khu hiện có 72 cơ sở nuôi trồng, với tổng diện tích hơn 14.484 m², sản lượng bình quân gần 100 tấn mỗi năm, tập trung vào các loài có giá trị kinh tế cao như cá mú, cá bớp, tôm hùm. Nhiều hộ dân còn kết hợp nuôi biển với du lịch trải nghiệm, mở rộng thêm nguồn thu nhập.

Vụ ca nam ở Cảng cá Phan Thiết

Vụ ca nam ở Cảng cá Phan Thiết

Song song đó, dịch vụ hậu cần nghề cá được đầu tư mạnh mẽ, trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị. Những con tàu không chỉ đi đánh bắt mà còn làm nhiệm vụ thu mua, bảo quản và vận chuyển sản phẩm ngay trên biển - một khâu trước đây thường bị bỏ ngỏ.

Chủ tàu Ngô Minh Đức là một trong những người đi đầu trong mô hình này. Gia đình ông sở hữu 3 tàu, vừa khai thác xa bờ, vừa làm dịch vụ hậu cần. Đáng chú ý, ông kiên quyết nói không với việc thu mua từ các tàu không có thiết bị giám sát hành trình hoặc không ghi chép nhật ký khai thác. Nhờ đó, sản phẩm được bảo đảm nguồn gốc, nâng cao giá trị khi tiêu thụ.

“Làm biển bây giờ không thể làm đơn lẻ nữa, phải liên kết thì mới hiệu quả”, ông nói.

Nuôi trồng hải sản trên biển

Nuôi trồng hải sản trên biển

Chính quyền địa phương cũng xác định rõ hướng đi: không để ngư dân làm ăn tự phát, mà phải tổ chức lại sản xuất, hiện đại hóa và nâng cao giá trị. Nhờ cách làm này, một chuỗi kinh tế biển khép kín đã dần hình thành từ khai thác, nuôi trồng, hậu cần đến tiêu thụ.

Tàu thuyền đánh bắt hải sản ở Đặc khu Phú Quý

Tàu thuyền đánh bắt hải sản ở Đặc khu Phú Quý

Kết quả rất rõ ràng, thu nhập người dân tăng lên đáng kể, tỷ lệ hộ nghèo ở đặc khu giảm xuống chỉ còn khoảng 0,31%.

Vụ ca nam ở Cảng cá Phan Thiết

Vụ ca nam ở Cảng cá Phan Thiết

Cùng một vùng biển nhưng cách con người lựa chọn đã khác. Có người tiếp tục đánh cược với may rủi, có người thay đổi để kiểm soát rủi ro, có người tìm một cách khác để vẫn sống được nhờ biển. Và chính những lựa chọn ấy đã tạo nên ranh giới. Không phải ranh giới của biển, mà là ranh giới giữa nghèo đói và ổn định, giữa bấp bênh và phát triển được vẽ nên từ chính cách con người mưu sinh từ biển. Làm biển không còn là chuyện đi xa hơn, mà là đi đúng cách để còn có thể đi lâu dài.

Tỉnh Lâm Đồng sau sáp nhập có nhiều nguồn lực phát triển lớn từ biển khơi

Tỉnh Lâm Đồng sau sáp nhập có nhiều nguồn lực phát triển lớn từ biển khơi

Kỳ 2: Khi vượt ranh giới, cái giá phải trả

Nội dung và ảnh: Thanh Nhàn - Minh Vân - Huỳnh Hiền
Trình bày: Nguyệt Nga

Dương Thị Nguyệt Nga, Thanh Nhàn

Nguồn Lâm Đồng: https://baolamdong.vn/ky-1-lam-giau-tu-bien-436500.html