Kiểm soát sản lượng thủy sản trên ứng dụng eCDT

Không chỉ góp phần minh bạch hóa hoạt động khai thác thủy sản, Hệ thống truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác điện tử (eCDT) còn là công cụ giúp các cơ quan chức năng của tỉnh giám sát chặt chẽ tàu cá từ lúc xuất bến đến khi cập cảng bốc dỡ sản phẩm.

Cán bộ Đồn Biên phòng Hoằng Trường tuyên truyền, hướng dẫn ngư dân thực hiện cài đạt Hệ thống eCDT.

Cán bộ Đồn Biên phòng Hoằng Trường tuyên truyền, hướng dẫn ngư dân thực hiện cài đạt Hệ thống eCDT.

Kể từ ngày 1/3/2026, Hệ thống eCDT được áp dụng trên phạm vi cả nước để quản lý tàu cá ra, vào cảng và cấp giấy biên nhận sản phẩm thủy sản bốc dỡ. Hệ thống vận hành theo cơ chế số hóa toàn bộ quy trình quản lý nghề cá, từ ghi nhận thông tin tàu cá xuất bến, hành trình khai thác trên biển, cập cảng cho đến việc xác nhận nguồn gốc hải sản phục vụ chế biến, xuất khẩu.

Ngư dân Lê Cao Hải, chủ tàu TH 90339TS, phường Sầm Sơn, cho biết: “Ban đầu chúng tôi cũng bỡ ngỡ thao tác trên điện thoại, cập nhật thông tin trước và sau mỗi chuyến biển. Nhưng sau khi được cán bộ cảng cá hướng dẫn, việc thực hiện khá thuận tiện. Dữ liệu được lưu trữ đầy đủ nên khi làm thủ tục xác nhận nguồn gốc thủy sản nhanh hơn trước rất nhiều. Tuy nhiên, với nhiều chủ tàu lớn tuổi hoặc lao động ít tiếp cận công nghệ, việc sử dụng ứng dụng vẫn còn khó khăn. Do đó, các ngành cần tổ chức tập huấn, hướng dẫn trực tiếp để ngư dân sử dụng thành thạo ứng dụng eCDT”.

Đến tháng 8/2026, toàn tỉnh có 2.838/2.884 tàu cá cài đặt ứng dụng eCDT theo quy định, đạt tỷ lệ 98,2%. Qua đó cho thấy sự vào cuộc quyết liệt của các cấp, ngành và sự đồng thuận của ngư dân trong việc cài đặt ứng dụng eCDT. Từ ngày 1/1 đến ngày 25/7/2026, tại các cảng cá chỉ định, gồm: Hòa Lộc, Lạch Hới, Lạch Bạng, Hải Châu và các điểm lên cá truyền thống đã có 1.553 tàu thực hiện thủ tục cập, rời cảng trên hệ thống. Trong đó, có 8.058 lượt xuất cảng của 1.514 tàu và 7.769 lượt nhập cảng của 1.223 tàu. Tổng sản lượng thủy sản khai thác được giám sát, xác nhận qua cảng đạt 10.488 tấn.

Mặc dù vậy, tỷ lệ tàu cá thực hiện đầy đủ thủ tục xuất, nhập cảng trên hệ thống vẫn còn thấp. Mới có 1.553/2.884 tàu thực hiện thủ tục trên eCDT, đạt 53,8%. Điều này cho thấy khoảng cách giữa việc cài đặt ứng dụng và việc sử dụng thường xuyên, hiệu quả hệ thống vẫn còn khá lớn. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ đặc thù hoạt động nghề cá. Nhiều tàu có chiều dài từ 15m trở lên thường xuyên khai thác và neo đậu tại các tỉnh ngoài, nhất là khu vực các đảo thuộc tỉnh Quảng Ninh. Trong khi đó, phần lớn tàu cá dưới 12m hoạt động tại các bãi ngang, cửa sông, điểm lên cá truyền thống nên chưa được kiểm tra, kiểm soát thường xuyên và chưa thực hiện đầy đủ thủ tục trên hệ thống.

Ông Lê Văn Thăng, Giám đốc Ban Quản lý Cảng cá Thanh Hóa, cho biết: “eCDT là giải pháp quan trọng để số hóa công tác quản lý nghề cá, giúp cơ quan chức năng kiểm soát chặt chẽ tàu cá, sản lượng khai thác và nguồn gốc nguyên liệu. Dữ liệu được cập nhật theo thời gian thực, giảm đáng kể việc ghi chép thủ công, đồng thời tạo thuận lợi cho doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu trong quá trình truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Ban đang tích cực phối hợp với các địa phương, lực lượng biên phòng tuyến biển tổ chức tuyên truyền, hỗ trợ ngư dân; đồng thời cử cán bộ hỗ trợ các địa phương chưa có cảng cá trong việc thực hiện thủ tục cập, rời bến và giám sát sản lượng tại các điểm lên cá truyền thống”.

Để nâng cao hiệu quả vận hành Hệ thống eCDT, lực lượng các đồn, trạm kiểm soát biên phòng tuyến biển thực hiện nghiêm công tác kiểm tra, kiểm soát 100% tàu cá xuất, nhập tại các cửa lạch phải thực hiện đầy đủ các thủ tục trên hệ thống eCDT. Chi cục Biển đảo và Thủy sản đang phối hợp với các địa phương và các đơn vị liên quan tuyên truyền, hướng dẫn cán bộ thủy sản cơ sở, nhân viên cảng cá và ngư dân cập nhật đầy đủ thông tin tàu cá trên Hệ thống eCDT. UBND các xã, phường nghề cá cũng được yêu cầu tổ chức tập huấn theo phương châm “cầm tay chỉ việc”, giúp chủ tàu, thuyền trưởng sử dụng thành thạo eCDT. Đồng thời phân công cán bộ chuyên môn hỗ trợ thực hiện thủ tục cho các tàu có chiều dài từ 6m đến dưới 12m tại những nơi chưa có cảng cá.

Việc ứng dụng eCDT không chỉ là yêu cầu trước mắt nhằm đáp ứng các quy định chống khai thác IUU, mà còn là bước đi quan trọng trong quá trình chuyển đổi số ngành thủy sản. Khi toàn bộ dữ liệu về tàu cá, sản lượng khai thác và nguồn gốc thủy sản được quản lý đồng bộ trên môi trường số, công tác quản lý nghề cá sẽ minh bạch, hiệu quả hơn, góp phần xây dựng ngành thủy sản phát triển bền vững, có trách nhiệm và hội nhập sâu rộng với thị trường quốc tế.

Bài và ảnh: Lê Hợi

Nguồn Thanh Hóa: http://baothanhhoa.vn/kiem-soat-san-luong-thuy-san-tren-ung-dung-ecdt-299991.htm