Giữ lớp giữa đại ngàn Trường Sơn

Mỗi buổi sáng, khi màn sương còn phủ kín, những bước chân giáo viên lại lặng lẽ vượt rừng, băng suối, qua sông Long Đại để đến với lớp học ở các bản Hôi Rấy, Nước Đắng, Rìn Rìn. Con đường đến trường không chỉ dài bởi khoảng cách địa lý, mà còn bởi sự gian khó của địa hình chia cắt, điều kiện đi lại phụ thuộc nhiều vào thời tiết, nhất là vào mùa mưa lũ.

Ở xã biên giới Trường Sơn, nơi có Trường PTDTBT tiểu học Trường Sơn, hệ thống điểm trường được bố trí rải rác tại các bản xa như: Cổ Tràng, Khe Cát, Sắt, Ploang, Rìn Rìn, Hôi Rấy, Nước Đắng. Tổng số 8 điểm trường đều nằm ở khu vực bị chia cắt bởi núi rừng và sông suối, gây khó khăn cho việc tổ chức dạy học, đi lại của giáo viên cũng như công tác quản lý chung của nhà trường.

Để đến được các điểm trường Hôi Rấy, Nước Đắng, giáo viên phải vượt qua sông Long Đại. Vào mùa mưa, nước sông dâng cao, việc di chuyển phụ thuộc vào đò nhỏ, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Sau khi qua sông, quãng đường vào bản chủ yếu là đường rừng, trơn trượt, nhiều đoạn dốc. Đối với các điểm trường như Rìn Rìn, Sắt, giáo viên phải đi bộ qua các triền núi dốc, thời gian di chuyển kéo dài. Những ngày mưa lớn, đường bị chia cắt, giáo viên phải ở lại bản nhiều ngày, sinh hoạt trong điều kiện còn thiếu thốn.

Để bảo đảm việc dạy học không bị gián đoạn, giáo viên lên bản từ sáng thứ 2 và trở về nhà vào chiều thứ 6. Việc bám bản theo tuần giúp duy trì ổn định nền nếp học tập, dù điều kiện sinh hoạt tại các điểm trường còn nhiều hạn chế về điện, nước và nơi ở.

Quang cảnh lớp ghép tại điểm trường Hôi Rấy, xã Trường Sơn - Ảnh: Q.N

Quang cảnh lớp ghép tại điểm trường Hôi Rấy, xã Trường Sơn - Ảnh: Q.N

Tại điểm trường Hôi Rấy, điều kiện cơ sở vật chất còn thiếu thốn. Không có điện, không có internet, lớp học được tổ chức theo mô hình lớp ghép để phù hợp với số lượng học sinh ít và phân tán. Ở lớp ghép 1G+2G, cô giáo Phan Thị Thế chia bảng thành 2 phần để giảng dạy 2 chương trình. Các hoạt động học được tổ chức luân phiên giữa các nhóm học sinh, đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng giữa cô và trò. Nhờ sự dạy dỗ tận tình, chu đáo của các thầy, cô giáo và sự nỗ lực vượt qua khó khăn của các em học sinh, trong các đợt kiểm tra định kỳ môn Toán và Tiếng Việt đã có nhiều em đạt điểm 8, điểm 9, có em đạt điểm 10.

Sau giờ học, cô Thế thường đến từng nhà học sinh để nắm bắt hoàn cảnh, trao đổi với phụ huynh về việc học tập của các em. Đồng thời, cô vận động thêm quần áo, đồ dùng học tập từ các nguồn để hỗ trợ học sinh. Cô Thế chia sẻ: “Ở đây điều kiện còn nhiều thiếu thốn, nhưng khi thấy các em đi học đều, chịu khó học bài, tôi có thêm động lực để gắn bó với điểm trường”.

Tại một lớp học khác, cô giáo Hà Thị Tơ (SN 1975), có 28 năm công tác trong ngành giáo dục, 3 năm nay tình nguyện lên dạy tại điểm trường Hôi Rấy. Cô đảm nhiệm lớp ghép 3 trình độ gồm lớp 3, lớp 4 và lớp 5 với 12 học sinh. Trong một không gian nhỏ, các nhóm học sinh được phân công học tập theo từng nội dung: Nhóm luyện đọc, nhóm làm Toán, nhóm tiếp cận kiến thức mới. Theo cô Tơ, việc phân chia thời gian hợp lý giữa các nhóm là yếu tố quan trọng để duy trì nếp học. Theo đánh giá, tinh thần học tập của học sinh tại điểm trường có sự chuyển biến rõ rệt. Các em mạnh dạn hơn trong phát biểu, chủ động tham gia các hoạt động học tập. Em Hồ Thị Kim Tuệ cho biết: “Cháu mong có điện để buổi tối học bài rõ hơn. Cháu muốn học giỏi để sau này làm cô giáo”.

Sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường từng bước được cải thiện. Phụ huynh tại bản Hôi Rấy cũng dần quan tâm hơn đến việc học của con cái. Chị Hồ Thị My có 2 con đang theo học tại điểm trường. Chị cho biết, trước đây, việc học chưa được chú trọng, nhưng hiện nay gia đình thường xuyên nhắc nhở các con đến lớp đầy đủ, đúng giờ. “Mình muốn con biết chữ, sau này đỡ vất vả hơn”, chị My nói.

Cô giáo Nguyễn Thị Thu, Hiệu trưởng Trường PTDTBT tiểu học Trường Sơn cho biết, toàn trường hiện có 21 lớp học, trong đó có 11 lớp ghép, với tổng số 323 học sinh, trong đó 242 em là người Bru-Vân Kiều. Khó khăn lớn nhất hiện nay là việc bố trí giáo viên cắm bản và công tác kiểm tra chuyên môn tại các điểm trường lẻ. “Chúng tôi phải tính toán để vừa bảo đảm chất lượng dạy học, vừa tạo điều kiện để giáo viên yên tâm công tác lâu dài”, cô Thu cho biết.

Để nâng cao chất lượng dạy học, nhà trường đã lựa chọn giáo viên có kinh nghiệm giảng dạy lớp ghép, tổ chức bồi dưỡng phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh, tăng cường dạy tiếng Việt cho học sinh Bru-Vân Kiều. Các lớp được tổ chức theo nhóm trình độ, kết hợp giữa dạy trực tiếp và giao nhiệm vụ tự học có hướng dẫn. Đồng thời, nhà trường bố trí giáo viên cắm bản trên tinh thần tự nguyện, bảo đảm chế độ, sắp xếp thời khóa biểu linh hoạt để giáo viên có thời gian chuẩn bị bài, phù hợp với điều kiện thực tế tại các điểm trường.

Nhờ đó, việc duy trì lớp học tại các bản xa vẫn được thực hiện đều đặn. Trong điều kiện còn nhiều khó khăn, việc giữ vững nền nếp dạy và học tại các điểm trường vùng cao Trường Sơn cho thấy sự nỗ lực của đội ngũ giáo viên và sự chuyển biến trong nhận thức của bà con dân bản, góp phần từng bước nâng cao chất lượng giáo dục ở địa bàn miền núi.

Quang Ngọc

Nguồn Quảng Trị: https://baoquangtri.vn/giao-duc/202604/giu-lop-giua-dai-ngan-truong-son-84a4c85/