Giỗ Tổ Hùng Vương
Từ bao đời, người Việt gọi các Vua Hùng là Quốc Tổ. Tổ ở đây là tổ tiên, người khai sinh ra một dân tộc. Trong chế độ phong kiến ở nhiều nước, vua được coi là Thiên tử - con Trời, nghĩa là con người có quyền uy tuyệt đối tách biệt vượt lên trên thế giới nhân quần. Còn người Việt Nam, nhìn về những đức vua khởi thủy của dân tộc không quan niệm vua là con Trời - Thiên tử, mà là quan hệ cha con, ông cháu, anh em, cùng chung huyết thống, nên gọi nhau bằng hai chữ 'đồng bào'. Và đến ngày tổ chức tưởng niệm gọi là Giỗ Tổ.

Rước kiệu về Đền Hùng
Giỗ là nét đẹp văn hóa mang ý nghĩa nhân văn, thể hiện lòng hiếu thảo và sự tri ân của con cháu đối với tiền nhân. Giỗ Tổ Hùng Vương là thể hiện lòng thành kính của con cháu hướng về cội nguồn dân tộc. Đó là sinh hoạt truyền thống có từ ngàn đời của người Việt Nam, đã được đúc kết, vừa nhắc nhở, vừa dặn dò qua câu ca truyền mãi với dân gian:
Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày Giỗ Tổ mùng mười tháng ba
Khắp miền truyền mãi câu ca
Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm.
Có lẽ câu ca dao ấy xuất hiện từ rất sớm, nhắc nhở những người luôn đi ngược về xuôi, có cuộc sống xa nhà, lên ngàn xuống bể buôn bán làm ăn, cũng như những kiếp thương hồ lênh đênh bất định trên sông nước chẳng mấy khi sinh hoạt trên bờ. Ngày nay, không gian giao tiếp ngược xuôi của người Việt Nam được mở rộng, không chỉ lên nguồn xuống bể ở phạm vi địa lý trên quê hương đất nước, mà họ còn là những người xa xứ vượt ra khỏi biên giới lãnh thổ ở khắp năm châu. Câu ca ấy bây giờ đã tác động mạnh mẽ đến cảm thức sâu xa của những người con xa xứ, dẫu mang quốc tịch của bất cứ quốc gia nào trên trái đất, họ vẫn luôn tâm niệm tự hào mang trong mình dòng máu Con Rồng Cháu Tiên, hồi tưởng nhớ về quê Cha đất Tổ, ở đó có người thân thuộc, có đồng bào cùng chung huyết thống.
Khái niệm hai tiếng “đồng bào” của người Việt Nam cực kỳ đặc biệt, là một danh xưng bắt nguồn từ huyền thoại Mẹ Âu Cơ sinh ra một “bọc trăm trứng”, nở ra trăm người con. (“Đồng bào” chính là cùng chung cái bọc thai trăm trứng ấy). Cách gọi bắt nguồn từ hiện tượng sinh nở mang triết lý nhân sinh vô cùng sâu sắc hiếm thấy có quốc gia nào trên thế giới. Khi tìm hiểu người Triều Tiên và Hàn Quốc, họ cũng tự hào về sự có chung cội nguồn dân tộc, từ huyền thoại Đàn Quân (Dangun), cũng gọi “đồng bào” (dongpo - 동포). Nhưng khác với hình tượng trong truyền thuyết Con Rồng Cháu Tiên của người Việt. Huyền thoại cội nguồn Đàn Quân là sự kết hợp giữa Hoàn Hùng (Hwanung) với Hùng Nữ (Ungnyeo). Hoàn Hùng là con trai của Thiên đế Hoàn Nhân (Hwanin), được cha cho xuống trần để giáo dục và giúp đỡ loài người. Hùng Nữ là sự biến thân của một con Gấu đã được tu luyện trở thành một phụ nữ xinh đẹp. Họ lấy nhau. Cuộc hôn nhân của họ tạo ra vị tổ phụ của dân tộc Triều Tiên, nhưng huyền thoại này không xuất hiện hình tượng “bào thai” hay “bọc trứng” (noãn sinh) như huyền thoại sinh nở của Mẹ Âu Cơ. Điểm khác, chuyện Con Rồng Cháu Tiên xuất phát từ một mối tình thơ mộng đầy chất thơ giữa Lạc Long Quân và Triệu Âu Cơ. Lạc Long Quân thuộc giống Rồng, Triệu Âu Cơ thuộc giống Tiên. Rồng là hình tượng tô tem, nằm trong bộ tứ linh của người Á Đông, được xem là vật mạnh nhất trong các loài vật, có phép vạn năng. Còn Tiên, cũng là nhân vật huyền thoại, trong cảm thức nhân gian, Tiên là người hiền lành. Dẫu chưa có ai thấy Tiên bao giờ, nhưng khi nói Tiên nữ là nói đến cái đẹp. Khen nhan sắc của một phụ nữ nào đó, người ta luôn mượn hình ảnh Tiên để so sánh - cô ấy đẹp như Tiên, nghĩa là đẹp không có ai sánh bằng. Mẹ Tiên vừa có nhan sắc vừa có phép màu. Hai hình ảnh Rồng Tiên biểu thị cho nét đẹp và khí lực tuyệt vời. Người Việt Nam họ vô cùng yêu quý và tự hào về nguồn gốc cha ông của họ là như vậy, không có gì đánh đổi được. Ở đây chỉ so sánh để nói về hai chữ “đồng bào”, chứ không phải so sánh để nói nguồn gốc dân tộc nào hơn dân tộc nào. Bởi dân tộc nào cũng xem nguồn gốc dân tộc mình là thiêng liêng cao đẹp nhất.
Giỗ Tổ Hùng Vương là tiếng gọi đàn, là nhịp cầu nối giữa quá khứ và tương lai của con dân đất Việt. Có những cánh chim bay đi khắp bốn phương trời tìm đường hành nghiệp, đến ngày “mùng mười tháng ba” được xem là ngày định vị bản thân, lại nhớ bay về, hoặc chưa có điều kiện bay về, ngày ấy như lời nhắc nhở, trong cõi sâu tâm tưởng thường cất lên tiếng gọi tâm linh, tưởng nhớ cội nguồn, hướng về quê hương đất Tổ, về nơi đang có bà con dòng tộc, có đồng bào của một đất nước qua mấy ngàn năm thăng trầm lịch sử cho đến bây giờ.
Nguồn Lâm Đồng: https://baolamdong.vn/gio-to-hung-vuong-438194.html











