Đổi thay làng quê nhờ khoa học và công nghệ
Sau một thập kỷ triển khai, Chương trình nông thôn miền núi đã đem lại sự đổi thay mạnh mẽ với 551 dự án được thực hiện trên khắp 34 tỉnh, thành phố. Thông qua chương trình, có tới 1.426 mô hình ứng dụng khoa học và công nghệ đã được xây dựng, cùng với 2.354 quy trình công nghệ tiên tiến, mới mẻ được chuyển giao vào thực tiễn.
Đây là những kết quả nổi bật được Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định thông tin tại Hội thảo tổng kết Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2025, ngày 26/6.

Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định phát biểu tại sự kiện.
Phát biểu đề dẫn tại sự kiện, ông Chu Thúc Đạt - Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết, nông thôn, miền núi, hải đảo và vùng đồng bào dân tộc thiểu số là những địa bàn trọng yếu về quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền quốc gia, do vậy luôn được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân. Để hiện thực hóa chủ trương đó, ngày 13/10/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1747 phê duyệt Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội các khu vực này giai đoạn 2016-2025.
Sau hơn 10 năm thực hiện, chương trình đã đem lại những thay đổi tích cực với các làng quê. Hàng nghìn mô hình khoa học công nghệ được ứng dụng, chuyển giao đã nâng cao đời sống kinh tế của người dân nơi đây, giúp giá trị kinh tế trung bình tăng hơn 30% so với phương thức sản xuất cũ. Không chỉ mang đến công nghệ, chương trình còn chú trọng đầu tư vào yếu tố con người khi tổ chức đào tạo cho hơn 1.800 cán bộ quản lý, hơn 4.000 kỹ thuật viên cơ sở và tập huấn cho trên 82.700 lượt nông dân.
Theo Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định, thành công lớn nhất của Chương trình không chỉ đong đếm bằng số lượng mô hình hay quy trình được chuyển giao, mà nằm ở việc đưa khoa học và công nghệ đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp và chính quyền địa phương. Thông qua đó, biến tri thức thành năng suất, công nghệ thành sinh kế bền vững và đưa đổi mới sáng tạo trở thành động lực phát triển cho các địa phương.
Tại các vùng nông thôn, miền núi, khoa học công nghệ đã len lỏi vào nhiều lĩnh vực đa dạng như sản xuất hoa, cây cảnh, dược liệu, khoai tây, nha đam, nuôi ong, chế biến gỗ và cả nông nghiệp công nghệ cao. Nhờ những dự án này, nhiều vùng nguyên liệu tập trung quy mô đã được hình thành, năng suất và chất lượng sản phẩm không ngừng được nâng cao. Đây cũng là đòn bẩy giúp bà con xây dựng thương hiệu, tạo thêm việc làm và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Để đạt được những bước tiến trên, chương trình đã đặt mục tiêu cốt lõi là tạo ra giá trị liên kết chặt chẽ giữa "bốn nhà": Nhà nước, nhà khoa học (viện, trường), doanh nghiệp và người nông dân. Mục tiêu của mô hình liên kết này là đưa nhanh các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, đồng thời hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp nhận, làm chủ công nghệ hiện đại để tạo ra các sản phẩm có giá trị kinh tế cao.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả nổi bật, quá trình chuyển giao công nghệ về nông thôn, miền núi cũng gặp phải không ít rào cản. Các địa phương và dự án vẫn phải đối mặt với những khó khăn khách quan liên quan đến thiên tai, dịch bệnh và sự biến động của thị trường. Ngoài ra, thủ tục quản lý, năng lực tiếp nhận công nghệ của người dân, cũng như khả năng duy trì và tiếp tục nhân rộng các mô hình sau khi dự án kết thúc vẫn là những thách thức cần được phân tích và giải quyết triệt để.
Với những định hướng và giải pháp hỗ trợ mới trong giai đoạn tiếp theo, khoa học và công nghệ được kỳ vọng sẽ tiếp tục là "chìa khóa" mở ra sự thịnh vượng, mang lại những đổi thay bền vững cho các làng quê, vùng sâu, vùng xa trên cả nước.












