'Đời chiến sĩ' của Đại tướng Phạm Văn Trà

Có những cuốn hồi ký vừa mở ra đã khiến lòng người đọc rung lên như nghe tiếng quân hành. 'Đời chiến sĩ' của Đại tướng, Anh hùng LLVT nhân dân Phạm Văn Trà, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, là một cuốn sách như thế.

Đọc từng trang sách, tôi hình dung cả một khúc quân hành dài hơn 7 thập kỷ của cậu bé đi từ làng Phù Lãng (Bắc Ninh), mỗi bước chân đều vang lên từ máu, từ lửa, từ tình yêu nước và tình người sâu nặng.

Tôi từng có một may mắn lớn là được ngồi cùng xe với Đại tướng Phạm Văn Trà trong chuyến công tác kiểm tra khu kinh tế-quốc phòng ở Tây Nguyên. Ông thân tình kể chuyện đời lính mà nghe ấm áp như kể chuyện nhà.

Cậu bé Phạm Văn Trà sinh ra ở làng Phù Lãng, vùng đất gốm cổ kính, nhưng cũng là nơi lũ lụt triền miên, đói nghèo chồng chất dưới ách thực dân, phong kiến. Cha của Phạm Văn Trà bị lính Pháp bắn chết ngay tại sân nhà trong một trận càn. Sớm có lòng căm thù giặc, dù ít tuổi, lại nhỏ con nhưng cậu thiếu niên vẫn quyết xin vào bộ đội. Phải thuyết phục mãi Phạm Văn Trà mới được chấp nhận, bắt đầu làm liên lạc rồi chuyển sang làm chiến sĩ bộc phá, nhiệm vụ dễ gặp thương vong nhất trong mỗi trận đánh. Có lần bị thương ngay dưới hàng rào nhưng Phạm Văn Trà quyết hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Hai năm cuối cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, người lính trẻ Tiểu đoàn Thiên Đức đã cùng đồng đội lập nhiều chiến công, nhưng quan trọng hơn là người lính ấy đã tự rút ra cho mình những bài học trận mạc đầu tiên.

Năm 1964, Trung úy Phạm Văn Trà cùng đoàn hơn 160 người vượt Trường Sơn vào miền Nam đánh Mỹ. Cuộc hành quân gian khổ suốt 5 tháng trời. Hơn 1/3 đồng đội của ông đã không còn vì sốt rét ác tính, vì bom đạn và cả kiệt sức dọc đường. Hơn chục năm chiến đấu ở chiến trường sông nước miền Tây Nam Bộ với đặc điểm thiên nhiên, con người và tương quan lực lượng với địch hoàn toàn khác so với Đồng bằng Bắc Bộ, và thêm cả hơn 10 năm chiến đấu bảo vệ biên giới, chống bọn diệt chủng Pol Pot-Ieng Sary trên đất Campuchia, tất cả đã làm nên bản lĩnh của vị tướng Phạm Văn Trà.

 Đại tướng Phạm Văn Trà tham dự buổi gặp mặt cựu chiến binh Trung đoàn 1-U Minh, tháng 4-2025. Ảnh: TUẤN TÚ

Đại tướng Phạm Văn Trà tham dự buổi gặp mặt cựu chiến binh Trung đoàn 1-U Minh, tháng 4-2025. Ảnh: TUẤN TÚ

Thời kỳ đầu mới vào chiến trường miền Nam, khi Phạm Văn Trà được đề cử vào đảng ủy tiểu đoàn, một đồng chí cán bộ đã thẳng thắn: “Anh Ba trưởng thành từ chiến sĩ, đã kinh qua chiến đấu, nhưng với chiến trường miền Tây, anh cũng chỉ là tân binh...”. Nghe câu đó, Phạm Văn Trà không tự ái, trái lại, ông rất thiện cảm với tính cách bộc trực của người Nam Bộ. Ông tự nhủ: Phải cố gắng chứng minh sự từng trải trận mạc của mình. Và ông đã chứng minh ngay lập tức. Trận đánh đồn số 7, giữa đêm mưa, bộ đội tiềm nhập, đang cắt hàng rào dây thép gai tạo cửa mở thì bất ngờ một quả mìn phát nổ, lập tức tiếng hét loạn xạ trong đồn địch vọng ra: “Việt cộng! Việt cộng!”, rồi hàng loạt pháo sáng vọt lên soi tỏ từng ngọn cỏ. Có người hoảng sợ, đề nghị cho rút. Nhưng với bản lĩnh và kinh nghiệm, ông ra lệnh cho mọi người nằm im. Thấy không có động tĩnh gì, địch cho rằng có thể do chuột hoặc rắn vướng mìn phát nổ nên yên trí ngủ tiếp, không đề phòng. Nhờ vậy, đơn vị giải quyết đồn nhanh gọn, bắt sống toàn bộ quân địch. Sau trận đánh, anh em miền Tây trầm trồ: “Anh Ba nhìn thư sinh, mảnh khảnh thế mà chơi được, chơi ngon!”.

Khi làm Tiểu đoàn trưởng, ông vẫn xung trận như lính trẻ. Có lần thấy chiếc F-105 bổ nhào bắn phá, ông vớ ngay khẩu AK, chỉ với 15 viên đạn, máy bay đã bị bắn rơi. Đó là một chiến công hi hữu. Trung đoàn 1-U Minh do ông chỉ huy đã trở thành nỗi kinh hoàng của quân Mỹ-ngụy. Ông cũng kiên quyết thực hiện chủ trương của Quân khu 9 sau Hiệp định Paris: Không ảo tưởng “thiện chí” của địch. Chủ trương sau này được Nghị quyết Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III (năm 1973) khẳng định là hoàn toàn đúng đắn.

Trận giải phóng đảo Hòn Bà năm 1975 cũng là một "kiệt tác quân sự" để đời của ông. Các đồng chí chỉ huy hải quân đề xuất đổ bộ lên bãi cát bằng phẳng, thuận lợi nhất. Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1-U Minh Phạm Văn Trà lại nghĩ khác: Chỗ ta thấy thuận lợi thì địch cũng thấy. Chúng sẽ tập trung phòng thủ chính chỗ ấy. Ông kiên quyết chọn bờ đá gập ghềnh, hiểm trở, tưởng chừng không thể tiếp cận. Kết quả: Bộ đội đổ bộ xong, đào công sự xong mà địch vẫn không hay biết. Khi chiếm được đảo mới thấy bãi cát kia là nơi địch giăng lưới lửa dày đặc. Mấy anh chỉ huy hải quân xúc động: “Kỳ thật! Anh chưa biết gì về địch tình mà như đi guốc trong bụng chúng!”.

Tháng 1-1978, khi là Phó sư đoàn trưởng, Tham mưu trưởng Sư đoàn 330 (Quân khu 9), ông kiên quyết bảo vệ phương án tiêu diệt quân Pol Pot ở khu vực núi Phú Cường-Ba Chúc, dù địch đông gấp bội và rất ngạo mạn. Ông đã nghiên cứu kỹ địa hình, bố trí lực lượng rồi thuyết phục cấp trên chấp nhận phương án táo bạo của mình. Kết quả là một chiến thắng vang dội: Ta tiêu diệt gọn gần một sư đoàn địch, loại khỏi vòng chiến đấu 1.215 tên, bắt sống 106 tên, thu nhiều vũ khí, trang bị, góp phần làm cho ý đồ lấn chiếm lãnh thổ của quân Pol Pot theo đó mà sụp đổ.

Nhưng điều làm tôi xúc động nhất không chỉ là tài cầm quân mà là trái tim nhân văn rất đậm chất lính của ông. Trưởng thành từ sự đùm bọc của dân nên ông thấm thía sức mạnh của tình dân. Khi chiến đấu ở Campuchia, ông và đồng đội đã giúp dân xây lại chùa chiền bị phá hủy, đưa sư về trụ trì, cứu đói, cấp thuốc... Nhân dân Campuchia gọi bộ đội Việt Nam là “Đội quân nhà Phật”. Khi làm Tư lệnh Quân khu 3 rồi Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, ông luôn chỉ đạo các đơn vị giải quyết vấn đề nảy sinh với dân một cách ôn hòa. Hễ có vụ việc phức tạp, ông xuống tận nơi, lắng nghe, thấu hiểu, giải quyết có tình, có lý. Một đồng chí Bí thư Tỉnh ủy từng tâm sự: “Xảy ra vụ việc nào, nếu Quân đội đã vào, lính của anh Trà đã vào là coi như vụ việc ổn thỏa đến 70-80%”.

15 năm được phục vụ dưới quyền khi ông là Tổng Tham mưu trưởng và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, tôi đã chứng kiến những đổi thay lớn lao ông để lại cho Quân đội: Cách bảo vệ biển, đảo, nhất là quần đảo Trường Sa được củng cố vững chắc hơn, các khu kinh tế-quốc phòng được hình thành như những "trận địa lòng dân", doanh trại được chuẩn hóa, sở chỉ huy của Bộ Quốc phòng được xây dựng khang trang, chính quy. Về nghỉ hưu, ông vẫn đau đáu với các chính sách đối với bộ đội. Ông tham gia xây chùa, dựng bia chiến công, sống giản dị như ngày còn mặc áo lính, vẫn cười hiền như ngày tôi được ngồi cùng ông trên chuyến xe giữa đại ngàn Tây Nguyên!

Nguồn QĐND: https://www.qdnd.vn/bao-quan-doi-nhan-dan-xuan-binh-ngo-2026/doi-chien-si-cua-dai-tuong-pham-van-tra-1026566