Đặt văn hóa vào trung tâm chiến lược phát triển bền vững đất nước

Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam được ví như 'luồng gió mới' thổi vào cánh buồm của con tàu văn hóa, ngay trước thềm Đại hội XIV của Đảng - nơi xác lập tâm thế của một dân tộc đang bước vào kỷ nguyên mới. GS. TS TỪ THỊ LOAN, Chủ tịch Hiệp hội Phát triển văn hóa cộng đồng Việt Nam cho rằng, Nghị quyết gửi đi thông điệp mạnh mẽ: Đảng đặt văn hóa vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển bền vững đất nước.

Độ “chín” về tư duy và sự đồng thuận

- Bà nhìn nhận Nghị quyết số 80-NQ/TW như thế nào, đặc biệt trong bối cảnh chỉ còn vài ngày nữa diễn ra Đại hội XIV của Đảng?

- Nghị quyết 80 được xem như bước cụ thể hóa sớm và có chiều sâu những quan điểm lớn được thể hiện trong Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV. Điểm mới nổi bật là Nghị quyết không chỉ dừng ở bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa theo nghĩa truyền thống, mà đặt văn hóa vào mối quan hệ hữu cơ với kinh tế, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, quốc phòng - an ninh và đối ngoại; coi văn hóa là trụ cột chiến lược song hành cùng kinh tế, chính trị và xã hội.

GS.TS Từ Thị Loan

GS.TS Từ Thị Loan

Nghị quyết được ban hành trước Đại hội XIV ít ngày, tạo ra độ “chín” về tư duy và sự đồng thuận về nhận thức trong toàn hệ thống chính trị đối với phát triển văn hóa. Nghị quyết giúp làm rõ những vấn đề cốt lõi như xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam, công nghiệp văn hóa, sức mạnh mềm và vai trò của văn hóa trong kỷ nguyên chuyển đổi số. Đây là những nội dung mới, then chốt, góp phần định hình tầm nhìn dài hạn được Đại hội XIV xác lập.

Quan trọng hơn, Nghị quyết gửi đi thông điệp mạnh mẽ: Đảng đặt văn hóa vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển bền vững đất nước. Ban hành Nghị quyết trước thềm Đại hội XIV không chỉ tạo nền tảng lý luận, thực tiễn cho các quyết sách lớn sắp tới, mà còn tạo niềm tin, kỳ vọng cho xã hội rằng trong giai đoạn mới, văn hóa sẽ được đầu tư tương xứng, quản trị hiệu quả và trở thành nguồn lực quan trọng để Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, có bản sắc trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.

- Nghị quyết nhấn mạnh “Phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”. Có thể “giải mã” cụm từ “trụ cột, hệ điều tiết” này như thế nào, thưa bà?

- Cụm từ “trụ cột, hệ điều tiết” là cách diễn đạt giàu hàm ý, phản ánh bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng về vai trò của văn hóa, con người đối với tiến trình phát triển đất nước hiện nay.

Có thể giải mã văn hóa là “trụ cột” theo nghĩa đó là nền móng tinh thần, giá trị nâng đỡ toàn bộ cấu trúc phát triển quốc gia. Văn hóa bảo đảm cho sự phát triển theo định hướng nhân văn, có chiều sâu và có bản sắc. Nếu thiếu trụ cột này, tăng trưởng kinh tế dễ rơi vào tình trạng lệch chuẩn, chạy theo lợi ích ngắn hạn, gia tăng bất bình đẳng xã hội, suy thoái đạo đức và đứt gãy niềm tin. Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, văn hóa giúp giữ vững bản lĩnh, căn tính và ổn định xã hội.

Khái niệm “hệ điều tiết” cho thấy văn hóa không chỉ mang tính “nền tảng” thụ động, mà còn có vai trò chủ động điều chỉnh, dẫn dắt và cân bằng. Văn hóa thông qua hệ giá trị, tính chất nhân văn, chuẩn mực xã hội và hành vi con người, có khả năng điều tiết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội; giữa phát triển vật chất với phát triển tinh thần; giữa hội nhập quốc tế với bảo vệ bản sắc. Trong kỷ nguyên số, khi công nghệ, thị trường và mạng xã hội tác động mạnh mẽ đến lối sống và tư duy, vai trò điều tiết của văn hóa càng trở nên quan trọng nhằm hạn chế tiêu cực, định hướng phát triển lành mạnh và tiến bộ.

Việc Nghị quyết 80 nhấn mạnh văn hóa, con người vừa là trụ cột, vừa là hệ điều tiết, thể hiện tầm nhìn sâu sắc: phát triển nhanh nhưng bền vững; hội nhập nhưng không hòa tan; hiện đại nhưng không đánh mất giá trị cốt lõi.

Huy động sức mạnh tổng lực

- Một chỉ tiêu quan trọng là bảo đảm nguồn lực tương xứng cho phát triển văn hóa; bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hàng năm cho văn hóa và tăng dần theo yêu cầu thực tiễn. Bà nhận định ra sao về sự tăng cường đầu tư nguồn lực cho văn hóa giai đoạn này?

- Có thể xem đây là bước tiến quan trọng về nhận thức và cam kết chính trị. Nhiều năm qua, mặc dù Đảng, Nhà nước luôn khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội, nhưng trên thực tế nguồn lực đầu tư cho văn hóa còn khiêm tốn, phân tán và thiếu ổn định. Đầu tư cho sáng tạo, công nghiệp văn hóa, hạ tầng mềm và phát triển con người chưa tương xứng với vai trò. Điều này phần nào hạn chế khả năng lan tỏa, đóng góp thực chất của văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội.

Văn hóa giờ đây được nhìn nhận như một động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế. Nguồn: TH

Văn hóa giờ đây được nhìn nhận như một động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế. Nguồn: TH

Trong bối cảnh đó, quy định bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hàng năm cho văn hóa thể hiện thay đổi căn bản về tư duy đầu tư: coi chi cho văn hóa không phải là chi tiêu “phụ trợ” hay “phúc lợi đơn thuần”, mà là đầu tư cho phát triển dài hạn, cho chất lượng tăng trưởng, cho nguồn lực con người và sức mạnh mềm quốc gia. Việc nhấn mạnh “tăng dần theo yêu cầu thực tiễn” cũng cho thấy văn hóa được đặt trong mối quan hệ động với phát triển, có khả năng mở rộng quy mô đầu tư khi hiệu quả và nhu cầu xã hội gia tăng.

Quan trọng hơn, chỉ tiêu này tạo cơ sở pháp lý và áp lực thực thi đối với các bộ, ngành và địa phương trong ưu tiên bố trí ngân sách cho văn hóa, đồng thời mở đường cho việc huy động các nguồn lực xã hội, hợp tác công - tư.

- Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV kỳ vọng rất cao vào các ngành công nghiệp văn hóa. Nghị quyết 80 đặt con số cụ thể phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030, phấn đấu 9% GDP vào năm 2045. Theo bà, cần huy động sức mạnh tổng lực như thế nào để đạt mục tiêu này?

- Đặt ra mục tiêu cụ thể đối với các ngành công nghiệp văn hóa cho thấy văn hóa được nhìn nhận như một động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế. Để hiện thực hóa mục tiêu đầy tham vọng này, cần huy động sức mạnh của hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp, giới sáng tạo và toàn xã hội.

Trước hết, cần khẩn trương hoàn thiện thể chế, chính sách, đặc biệt là khung pháp lý cho các ngành công nghiệp văn hóa, bảo vệ bản quyền, sở hữu trí tuệ, thị trường sáng tạo và các mô hình kinh doanh mới trên nền tảng số. Đồng thời, đầu tư có trọng tâm cho hạ tầng văn hóa, hạ tầng số, các trung tâm sáng tạo, không gian sáng tạo và hệ sinh thái khởi nghiệp văn hóa, tạo nền móng cho sự phát triển dài hạn.

Thứ hai, phát huy vai trò của doanh nghiệp và khu vực tư nhân như lực lượng nòng cốt của công nghiệp văn hóa. Khuyến khích hợp tác công - tư, ưu đãi tín dụng, thuế, hỗ trợ đổi mới sáng tạo giúp thu hút nguồn lực xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản phẩm văn hóa Việt Nam.

Thứ ba, nguồn nhân lực sáng tạo và đội ngũ nghệ sĩ, nhà thiết kế, nhà làm phim, nhà sản xuất nội dung số là yếu tố quyết định. Cần đổi mới mạnh mẽ giáo dục, đào tạo, kết nối giữa nhà trường - doanh nghiệp - thị trường quốc tế, đồng thời xây dựng môi trường sáng tạo tự do, lành mạnh và tôn trọng giá trị sáng tạo.

Cuối cùng, phải gắn phát triển công nghiệp văn hóa với hội nhập quốc tế và xây dựng thương hiệu văn hóa quốc gia. Khi các sản phẩm văn hóa Việt Nam tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, mục tiêu đóng góp 7 - 9% GDP không chỉ là con số kinh tế, mà còn là biểu hiện sinh động của sức mạnh mềm và vị thế Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

- Xin cảm ơn bà!

Lê Thư thực hiện

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/dat-van-hoa-vao-trung-tam-chien-luoc-phat-trien-ben-vung-dat-nuoc-10404010.html