Con đường mang tên hạnh phúc ở vùng cao xứ Lạng
Một con đường dài gần 3 km, rộng 3 m, xuyên qua đồi núi, vực sâu kết nối khu dân cư Lân Nóng, thôn Loi, xã Cai Kinh, tỉnh Lạng Sơn với bên ngoài đã được hoàn thành sau hơn 5 tháng thi công thần tốc.
Một con đường dài gần 3 km, rộng 3 m, xuyên qua đồi núi, vực sâu kết nối khu dân cư Lân Nóng, thôn Loi, xã Cai Kinh, tỉnh Lạng Sơn với bên ngoài đã được hoàn thành sau hơn 5 tháng thi công thần tốc.
Cán bộ chiến sĩ Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn, các đơn vị thuộc Quân khu 1 cùng với đông đảo cán bộ, nhân dân đã chung sức, đồng lòng “vượt nắng, thắng mưa” bám trụ liên tục trên công trường để xây nên con đường mang tên hạnh phúc - con đường của ý đảng, lòng dân, mở ra cơ hội phát triển mới cho đồng bào dân tộc vùng cao...
Sau hơn 5 tháng vượt nắng, thắng mưa, “con đường hạnh phúc” vào khu dân cư Lân Nóng, thôn Loi, xã Cai Kinh, tỉnh Lạng Sơn đã hoàn thành trong niềm vui vô bờ của đồng bào các dân tộc vùng cao.
Niềm vui trên con đường mới
Nằm sâu trong thung lũng thuộc thôn Loi, xã Cai Kinh, Lân Nóng có diện tích 443.852 m², gồm 13 hộ dân với 62 nhân khẩu người dân tộc Nùng. Cách trung tâm xã khoảng 8 km, Lân Nóng từng là khu dân cư đặc biệt khó khăn với 100% hộ dân thuộc diện hộ nghèo và cận nghèo.
Đầu năm 2025, Lân Nóng là khu dân cư “3 không” gồm không điện lưới quốc gia, không sóng điện thoại, internet và không có đường giao thông thuận lợi. Muốn vào Lân Nóng, người dân phải đi bộ xuyên rừng, băng qua núi đá. Đến tháng 4/2025, với sự hỗ trợ của cộng đồng, người dân Lân Nóng đóng góp công, góp sức làm tuyến đường tạm vắt ngang sườn núi để thuận tiện cho xe máy đi qua…
Để có “con đường hạnh phúc” vào khu dân cư Lân Nóng, thôn Loi, xã Cai Kinh, tỉnh Lạng Sơn, lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương đã đồng lòng, miệt mài thi công liên tục trong thời gian hơn 5 tháng bất kể thời tiết mưa, nắng.
Trước những khó khăn của nhân dân, cuối năm 2025, Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn Nguyễn Cảnh Toàn cùng lãnh đạo các sở, ngành, địa phương đã thị sát tại khu dân cư này. Sau chuyến đi, tỉnh Lạng Sơn cùng các đơn vị liên quan đã quyết định đầu tư mở một con đường ô tô chạy thẳng đến khu dân cư; đồng thời đưa điện năng lượng mặt trời, phủ sóng điện thoại và Wi-Fi đến với người dân.
Đầu tháng 2/2026, Viettel Lạng Sơn hoàn thành kéo cáp Internet đến từng hộ dân và lắp đặt trạm phát sóng di động, phủ sóng 4G toàn khu dân cư. Công ty Điện lực Lạng Sơn cũng hoàn thành 4 cụm hệ thống năng lượng mặt trời, tổng mức đầu tư hơn 2 tỷ đồng, giúp người dân có điện sinh hoạt và tiếp cận các dịch vụ viễn thông.
Đường vào khu dân cư Lân Nóng, thôn Loi, xã Cai Kinh, tỉnh Lạng Sơn được đặt tên là “con đường hạnh phúc” kết nối giao thương, tạo điều kiện để đồng bào vùng cao phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo.
Đầu tháng 3/2026, công trình đường vào khu dân cư Lân Nóng dài 2,7 km, từ thôn Làng Đăm, xã Vạn Linh vào Lân Nóng được khởi công với tổng kinh phí hơn 12 tỷ đồng. Sau hơn 5 tháng bạt đồi, xẻ núi, với hơn 8.300 m³ đất đá được đào, đắp, san gạt và gần 7.000 ngày công, tuyến đường bê tông dày 18 cm đã hoàn thành.
Từ đường ĐH xã Vạn Linh, chúng tôi vượt qua con đường nhỏ tại thôn Làng Đăm - con đường chỉ vừa đủ một xe ô tô đi lọt, dài khoảng 2 km với nhiều đoạn cua tay áo, có những con dốc cao khiến chiếc xe gầm lên, rung bần bật. Lên tới đỉnh dốc các thành viên trong đoàn vừa bớt căng thẳng đôi chút lại phải “nín thở” khi chiếc xe như đang lao xuống con dốc gần như dựng đứng.
Vào đến đầu tuyến “con đường hạnh phúc” thuộc khu dân cư Lân Nóng, chúng tôi để lại ô tô tại một bãi đất, chuyển sang đi xe máy. Khoảng 1 km đầu tuyến là đường bê tông rộng, khá bằng phẳng, sau đó chuyển sang cung đường đèo dốc. Gần 2 km còn lại có nhiều khúc cua và dốc cao, đường ôm sát sườn núi, kéo dài đến tận cổng khu dân cư.
Khung cảnh yên bình, thơ mộng của khu dân cư Lân Nóng, thôn Loi, xã Cai Kinh, tỉnh Lạng Sơn.
Lân Nóng hiện ra với những ngôi nhà gỗ lợp mái ngói âm dương xen giữa vườn cây, ruộng lúa. Trong ánh nắng sớm và làn sương mỏng, khu dân cư mang vẻ đẹp hoang sơ, yên bình. Những khóm hoa tường vi dọc đường bắt đầu khoe sắc, tạo nên một không gian thanh bình giữa núi rừng.
Đang hong những bao ngô trước sân, thấy khách đến, bà Lâm Thị Khăm vui vẻ mời vào nhà. Bà cho biết gia đình đã sống ở đây gần 30 năm. Trước kia, người dân chủ yếu trồng ngô, lạc trên sườn núi. Không đường, không điện, không mạng, cuộc sống và việc học của trẻ em gặp rất nhiều khó khăn. Đến mùa thu hoạch, bà con phải gánh ngô, cõng lạc đi bộ ra ngoài bán.
Bà kể, ông bà có một người con trai năm nay 25 tuổi, trước đây do đường xá đi lại khó khăn, trường xa cách nhà khoảng 6 - 7 km nên chỉ học đến lớp 9 là nghỉ ở nhà đi làm. Vài năm trước con trai có quen và dẫn bạn gái về ra mắt gia đình nhưng sau khi đi bộ xuyên qua núi vào nhà thấy hoàn cảnh gia đình quá khó khăn, cô bạn gái ấy đã không trở lại thêm lần nào nữa.
Giờ đây, niềm vui nối tiếp niềm vui, bà con vừa có đường mới vừa có điện sáng và sóng điện thoại, mạng viễn thông để xem tivi, theo dõi, cập nhật tin tức, học hỏi kinh nghiệm làm ăn. Đặc biệt là từ đầu năm 2026, Lân Nóng đang được định hướng xây dựng thành Làng du lịch cộng đồng Net Zero hi vọng sẽ mở ra cơ hội phát triển, nâng cao đời sống, thu nhập cho nhân dân...
“Con đường hạnh phúc”
Con đường dài gần 3 km từ thôn Làng Đăm, xã Vạn Linh vào khu dân cư Lân Nóng, thôn Loi, xã Cai Kinh, tỉnh Lạng Sơn uốn khúc quanh sườn núi.
Ông Vi Văn Sửu, Trưởng thôn Loi, xã Cai Kinh cho biết, Lân Nóng là khu dân cư vùng 3 đặc biệt khó khăn, cách trung tâm xã khoảng 8 km song đường đến đây không hề dễ dàng, nhỏ hẹp, hẹp, đồi dốc. Trước đây người dân chủ yếu đi bộ. Bà con sản xuất nông nghiệp là chính nhưng việc tiêu thụ gặp khó do không có đường giao thông đi lại thuận tiện.
Đầu năm 2025, nhận được hỗ trợ từ nguồn xã hội hóa, bà con nơi đây đã góp công, góp sức mở con đường dài 2,7 km, rộng trung bình từ 1,5 - 2m để đi lại, giảm bớt khó khăn song mặt đường đất đá không bằng phẳng, nhiều đoạn nhỏ hẹp, trũng, đèo dốc dễ bị sạt lở, chia cắt khi mùa mưa bão đến. Để vào Lân Nóng phải vượt qua 4 đoạn đèo dài hơn 900 m, có độ dốc từ 30-40 độ. Địa hình này khiến việc đi lại, vận chuyển nông sản và đến trường của học sinh thêm gian nan.
Sau nhiều năm mong mỏi, với sự hỗ trợ của cấp ủy, chính quyền các cấp, Quân khu 1 và Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn, tuyến đường ô tô rộng rãi đã hoàn thành, nối Lân Nóng với bên ngoài.
Nhiều đoạn trên tuyến đường vào khu dân cư Lân Nóng, thôn Loi, xã Cai Kinh, tỉnh Lạng Sơn đi xuyên qua núi đá chênh vênh, dốc cao, vực sâu.
Góp mặt trong ngày công trình hoàn thành, chứng kiến giọt nước mắt hạnh phúc của người dân, Đại tá Nguyễn Công Khuê, Chính ủy Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn vui mừng thông tin, việc thi công hạ đèo, mở rộng con đường vào khu dân cư Lân Nóng dù chưa đầy 3 km song địa hình hiểm trở, cách núi cao, vực sâu, khối lượng thi công lớn, địa chất phức tạp, thời tiết khắc nghiệt, nắng nóng gay gắt, mưa nhiều. Khi thi công tại các đỉnh đèo có nhiều đá nguyên khối, độ dốc cao, công tác khoan, nổ mìn, vận chuyển đất đá, nguyên liệu không hề đơn giản.
Con đường vào khu dân cư Lân Nóng, thôn Loi, xã Cai Kinh, tỉnh Lạng Sơn, mở ra cơ hội phát triển mới cho đồng bào các dân tộc vùng cao Lạng Sơn.
Với quyết tâm hoàn thành tuyến đường trong thời gian sớm nhất, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh đã thành lập Ban Chỉ đạo, Ban Chỉ huy công trường, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc các khâu thi công; bố trí 60 cán bộ, chiến sĩ cùng hơn 10 phương tiện, máy móc bám công trường, thi công liên tục cả ngày nghỉ, ngày lễ. Các lực lượng và nhân dân địa phương cũng tích cực phối hợp, hỗ trợ.
Có đường mới, người dân ở khu dân cư Lân Nóng, thôn Loi, xã Cai Kinh, tỉnh Lạng Sơn đã bắt tay vào làm du lịch cộng đồng, xây dựng các homestay để thu hút du khách về tham quan, nghỉ dưỡng.
“Con đường này có ý nghĩa vô cùng lớn đối với nhân dân Lân Nóng. Đây là con đường để đưa các cháu học sinh đến trường, để nhân dân vận chuyển nông sản ra ngoài giao thương và cũng là con đường để bà con tiếp tục mở rộng, tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống. Vì vậy, chúng tôi đã đặt tuyến đường này là “con đường hạnh phúc” - con đường thắm tình quân, dân”, Đại tá Nguyễn Công Khuê nhấn mạnh.
Bí thư Đảng ủy xã Cai Kinh, tỉnh Lạng Sơn Đinh Thị Anh Thư cho hay, sau khi sắp xếp, xã có 12 thôn. Lân Nóng là khu dân cư thuộc thôn vùng 3, điều kiện kinh tế - xã hội còn chênh lệch lớn so với các thôn khác. Thời gian tới, xã tập trung phát triển kinh tế, chuyển đổi mô hình sản xuất, đưa cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao vào sản xuất; nâng cao nhận thức, hướng dẫn kĩ thuật canh tác cho người dân nhằm nâng cao năng suất, chất lượng nông sản.
Bí thư Tỉnh ủy Lạng Sơn Hoàng Quốc Khánh (đứng giữa) cùng lãnh đạo các sở, ngành, địa phương thăm, động viên bà con khu dân cư Lân Nóng, thôn Loi, xã Cai Kinh.
Địa phương cũng tiếp tục đầu tư hạ tầng giao thông nội khu, xây dựng hệ thống bể nước sạch, cải thiện cảnh quan môi trường và phát triển các sản phẩm du lịch gắn với đời sống, văn hóa của đồng bào các dân tộc. Mục tiêu là hoàn thiện các tiêu chí, đề nghị công nhận Lân Nóng trở thành điểm du lịch của tỉnh, qua đó thu hút du khách, tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân.
13 hộ dân với 62 nhân khẩu người dân tộc Nùng sinh sống giữa thung lũng biệt lập thuộc thôn Loi, xã Cai Kinh, tỉnh Lạng Sơn.
Từ một khu dân cư từng bị chia cắt bởi núi cao, vực sâu, Lân Nóng nay đã có đường ô tô, điện, Internet và sóng di động. “Con đường hạnh phúc” không chỉ rút ngắn khoảng cách địa lý mà còn mở ra một hành trình mới - hành trình thoát nghèo, phát triển kinh tế và đưa vùng cao đến gần hơn với những cơ hội của cuộc sống hiện đại./.
Dân tộc Nùng
Tên tự gọi: Nồng.
Nhóm địa phương: Nùng Giang, Nùng Xuồng, Nùng An, Nùng Inh, Nùng Lòi, Nùng Cháo, Nùng Phàn Slình, Nùng Quy Rịn, Nùng Dín...
Dân số: 968.800 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng Nùng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai), cùng nhóm với tiếng Tày, tiếng Thái, và nhất là tiếng Choang ở Trung Quốc...
Lịch sử: Người Nùng phần lớn từ Quảng Tây (Trung Quốc) di cư sang cách đây khoảng 200-300 năm.
Hoạt động sản xuất: Người Nùng làm việc rất thành thạo nhưng do cư trú ở những vùng không có điều kiện khai phá ruộng nước cho nên nhiều nơi họ phải sống bằng nương rẫy là chính. Ngoài ngô, lúa họ còn trồng các loại củ, bầu bí, rau xanh...
Họ biết làm nhiều nghề thủ công: dệt, rèn, đúc, đan lát, làm đồ gỗ, làm giấy dó, làm ngói âm dương... Nhiều nghề có truyền thống lâu đời nhưng vẫn là nghề phụ gia đình, thường chỉ làm vào lúc nông nhàn và sản phẩm làm ra phục vụ nhu cầu của gia đình là chính. Hiện nay, một số nghề có xu hướng mai một dần (dệt), một số nghề khác được duy trì và phát triển (rèn). Ở xã Phúc Sen (huyện Quảng Hoà, Cao Bằng) rất nhiều gia đình có lò rèn và hầu như gia đình nào cũng có người biết làm nghề rèn.
Chợ ở vùng người Nùng phát triển. Người ta thường đi chợ phiên để trao đổi mua bán các sản phẩm. Thanh niên, nhất là nhóm Nùng Phàn Slình, thích đi chợ hát giao duyên.
Ăn: Ở nhiều vùng người Nùng ăn ngô là chính. Ngô được xay thành bột để nấu cháo đặc như bánh đúc. Thức ăn thường được chế biến bằng cách rán, xào, nấu, ít khi luộc. Nhiều người kiêng ăn thịt trâu, bò, chó.
Mặc: Y phục truyền thống của người Nùng khá đơn giản, thường làm bằng vải thô tự dệt, nhuộm chàm và hầu như không có thêu thùa trang trí. Nam giới mặc áo cổ đứng, xẻ ngực, có hàng cúc vải. Phụ nữ mặc áo năm thân, cài cúc bên nách phải, thường chỉ dài quá hông.
Ở: Người Nùng cư trú ở các tỉnh Ðông Bắc nước ta, họ thường sống xen kẽ với người Tày. Phần lớn ở nhà sàn. Một số ở nhà đất làm theo kiểu trình tường hoặc xây bằng gạch mộc. Ở ven biên giới trước kia còn có loại nhà làm theo kiểu pháo đài, có lô cốt và lỗ châu mai để chống giặc cướp.
Phương tiện vận chuyển: Các phương thức vận chuyển truyền thống là khiêng, vác, gánh, mang, xách. Hiện nay ở một số địa phương người Nùng sử dụng xe có bánh lốp do các vật kéo để làm phương tiện vận chuyển.
Quan hệ xã hội: Trước Cách mạng tháng Tám, xã hội người Nùng đã đạt đến trình độ phát triển như ở người Tày. Ruộng và nương thâm canh đã biến thành tài sản tư hữu, có thể đem bán hay chuyển nhượng. Hình thành các giai cấp: địa chủ và nông dân.
Cưới xin: Nam nữ được tự do yêu đương, tìm hiểu và khi yêu nhau họ thường trao tặng nhau một số kỷ vật. Các chàng trai tặng các cô gái đòn gánh, giỏ đựng con bông (hắc lì) và giỏ đựng con sợi (cởm lót).Còn các cô gái tặng các chàng trai áo và túi thêu.
Tuy nhiên hôn nhân lại hoàn toàn do bố mẹ quyết định, trên cơ sở hai gia đình có môn đăng hộ đối không và lá số đôi trai gái có hợp nhau hay không. Nhà gái thường thách cưới bằng thịt, gạo, rượu và tiền. Số lượng đồ dẫn cưới càng nhiều thì giá trị của người con gái càng cao. Việc cưới xin gồm nhiều nghi lễ, quan trọng nhất là lễ đưa dâu về nhà chồng. Sau ngày cưới cô dâu vẫn ở nhà bố mẹ đẻ cho đến sắp có con mới về ở hẳn nhà chồng.
Sinh đẻ: Ngoài lễ đặt bàn thờ bà mụ và lễ mừng trẻ đầy tháng ở một số nhóm Nùng còn tổ chức lễ đặt tên cho trẻ khi chúng đến tuổi trưởng thành.
Ma chay: Có nhiều nghi lễ với mục đích chính là đưa hồn người chết về bên kia thế giới.
Nhà mới: Làm nhà mới là một trong nhiều công việc hệ trọng. Vì thế khi làm nhà người ta rất chú ý tới việc chọn đất, xem hướng, chọn ngày dựng nhà và lên nhà mới với ước mong có cuộc sống yên vui, làm ăn phát đạt.
Thờ cúng: Thờ tổ tiên là chính. Bàn thờ đặt ở nơi trang trọng, được trang hoàng đẹp, ở vị trí trung tâm là bức phùng slằn viết bằng chữ Hán cho biết tổ tiên thuộc dòng họ nào. Ngoài ra còn thờ thổ công, Phật bà Quan âm, bà mụ, ma cửa, ma sàn, ma ngoài sàn (phi hang chàn)... và tổ chức cầu cúng khi thiên tai, dịch bệnh... Khác với người Tày, người Nùng tổ chức mừng sinh nhật và không cúng giỗ.
Lễ tết: Người Nùng ăn tết giống như ở người Việt và người Tày.
Lịch: Người Nùng theo âm lịch.
Học: Có chữ nôm Nùng dựa theo chữ Hán, đọc theo tiếng Nùng và chữ Tày - Nùng trên cơ sở chữ cái La-tinh.
Văn nghệ: Sli là hát giao duyên của thanh niên nam nữ dưới hình thức diễn xướng tập thể, thường là đôi nam, đôi nữ hát đối đáp với nhau và được hát theo hai bè.
Người ta thường Sli với nhau trong những ngày hội, ngày lễ, ngày chợ phiên, thậm chí ngay trên tàu, trên xe.
Chơi: Trong các ngày tết, ngày lễ, ngày hội thường có một số trò chơi như tung còn, đánh cầu lông, đánh quay, kéo co...
Theo cema.gov.vn
Tin liên quan
Con đường mới nối lại nhịp sống vùng sạt lở Đổi thay trên quê hương chiến khu cách mạng Mường Thàng Xây dựng thế trận vững chắc bảo vệ phên dậu Tổ quốc Đảm bảo an toàn giao thông tại các tuyến đường nông thôn

