Chữ và nghĩa: 'Bậu' và bạn

Đọc lại bài Kính người già cả in năm 1893 tại Sài Gòn của Trương Minh Ký, ta thấy có đoạn: 'Bậu ôi, người già nầy đáng cho bậu cung kính lắm, và nếu bậu muốn cho ngày kia khỏi bị búng rảy, khi bậu trở về già như vậy, thì phải kính trọng người ấy'.

Búng rảy viết đúng chính tả là "búng rãy", nghĩa là chê bai, không thèm.

Cần lưu ý từ "bậu", xem có phải là đặc sản trong lời ăn tiếng nói của người phương Nam không?

Với từ bậu, Từ điển Việt - Bồ - La (1651) ghi: "Bậu: Bạn". Đến thời Đại Nam quấc âm tự vị (1895), đã xếp chung: "Qua bậu: Tao, mày (tiếng nói thân thiết), như lớn nói với nhỏ, chồng nói với vợ". Bậu là đại từ nhân xưng ngôi thứ hai.

Ngày nay, từ qua, bậu ít sử dụng, nhưng đến cuối thế kỷ 19 vẫn còn khá phổ biến. Ví dụ trong truyện thơ Lục Vân Tiên:

"Tiểu đồng hồn bậu có thiêng

Thảo tình thầy tớ lòng thiềng ngày nay"

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Hoặc trong các câu ca dao ở Nam bộ:

"Chim kêu dưới suối, trên cành

Qua không bỏ bậu, sao bậu đành bỏ qua?"

"Bậu với qua gá nghĩa chung tình

Dầu ăn cơm quán ngủ đình cũng cam"

"Nỗi nhớ thương sâu sắc

Bậu buồn, qua dễ chẳng buồn

Cá dưới sông biếng lội, chim trên nguồn biếng bay"

"Ví dầu tình bậu muốn thôi

Bậu gieo tiếng dữ cho rồi bậu ra"…

Ngược về trước nữa, từ thế kỷ 15, ta thấy dấu vết của từ bậu đã xuất hiện trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi:

"Trong mắt những mừng ơn bậu bạn,

Trên đầu luống đội đức triều đình"

Dẫn chứng chi tiết, cụ thể như thế để thấy từ qua, bậu đã xuất hiện từ "ngày xửa ngày xưa" ở nhiều vùng miền. Vậy thử truy xét đây có phải là từ thuần Việt hoặc vay mượn?

Về từ bậu, khi thực hiện công trình Nguyễn Trãi - Quốc âm từ điển (NXB Văn học, 2018), TS Trần Trọng Dương của Viện Nghiên cứu Hán Nôm phân tích: "Bậu: So sánh đối ứng "pậu" là "người ta, chúng nó", từ để gọi bạn bè kém tuổi mình (Tày) cũng đọc "vậu", phương ngữ miền Trung: Bậu là từ nam giới dùng để gọi vợ" - (trang 22).

Tương tự, Từ điển từ cổ (2002), nhà nghiên cứu Vương Lộc cũng cho biết: "Bậu (Mường, Tày Nùng: "Pậu") - (trang 13).

Từ các thông tin này, ta kiểm chứng qua Từ điển Tày - Nùng - Việt (NXB Từ điển Bách khoa, 2006) do Hoàng Văn Ma, Lục Văn Pảo, Hoàng Chi biên soạn, ta thấy từ bậu/pậu được giải thích như sau:

pậu (a). 1) người ta, họ. Chắc kin dú đuổi ~: Biết ăn ở với người ta. * ~ phuối cần nà, hây lòa kha cáy (người ta nói bờ ruộng, mình phang chân gà): Ông nói gà bà nói vịt; 2) Tôi ~ cạ ~ hết đảy: Tôi bảo là tôi làm được mà.

pậu (b). 1) bạn. Pây tàng mì ~: Đi đường có bạn; 2) phù (dâu, rể). Khươi ~: phù rể. Lùa ~: phù dâu; 3) đưa, kèm (để cho khỏi phải sợ). Mì cần ~ chắng đi pây: Có người đưa mới dám đi. Pây nòn ~ kỉ cầm: Đi ngủ kèm mấy đêm; 4) giữ, cầm. Kin khẫu ~ khec: Ăn cơm giữ khách" - (trang 307 - 308).

Dù pậu/bậu trong tiếng Tày, Nùng, Mường có nhiều nghĩa, nhưng người Kinh chủ yếu vay mượn nghĩa là bạn hoặc người ta. Những kết luận này cho thấy qua và bậu là vay mượn từ tiếng Mường, Tày, Nùng. Và đây là từ toàn dân, chứ không phải đặc sản riêng biệt của người phương Nam.

Lê Minh Quốc

Nguồn Báo Thể Thao & Văn Hóa: https://thethaovanhoa.vn/chu-va-nghia-bau-va-ban-20260722053828916.htm