Chính thức tăng mức chuẩn trợ giúp xã hội lên 540.000 đồng/tháng
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 335/2026 quy định chính sách trợ giúp xã hội, trong đó nâng mức chuẩn trợ giúp xã hội từ 500.000 lên 540.000 đồng/tháng.
Mức chuẩn trợ giúp xã hội mới áp dụng từ ngày 1/7 là 540.000 đồng/tháng (quy định cũ là 500.000 đồng).
Trường hợp điều kiện kinh tế - xã hội địa phương bảo đảm, UBND cấp tỉnh trình HĐND cùng cấp quyết định: Mức chuẩn trợ giúp xã hội, mức trợ giúp xã hội áp dụng trên địa bàn cao hơn mức chuẩn trợ giúp xã hội và mức trợ giúp xã hội quy định tại nghị định; đối tượng khó khăn khác chưa quy định tại nghị định được hưởng chính sách trợ giúp xã hội.
Nghị định quy định các nhóm đối tượng được trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng.
Thứ nhất là nhóm trẻ em dưới 16 tuổi: Bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi; cả cha và mẹ đẻ đã chết hoặc một trong hai người đã chết và người kia không xác định được; cha hoặc mẹ đã chết hoặc không xác định được và người còn lại bị tuyên bố mất tích theo quy định; cha hoặc mẹ đã chết hoặc không xác định được và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội; cha hoặc mẹ đã chết hoặc không xác định được và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính...
Thứ hai là nhóm đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng mà đủ 16 tuổi nhưng đang học giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học văn bằng thứ nhất nếu quá trình học liên tục không bị gián đoạn thì tiếp tục được hưởng chính sách trợ giúp xã hội cho đến khi kết thúc học.
Thứ ba là nhóm trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo.
Thứ tư là nhóm người thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo chưa có chồng hoặc chưa có vợ; có chồng hoặc vợ nhưng đã chết hoặc mất tích theo quy định của pháp luật và đang nuôi con dưới 16 tuổi.
Thứ năm là nhóm người cao tuổi gồm các trường hợp: Thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng; thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở trợ giúp xã hội nhưng có người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc tại cộng đồng.
Thứ sáu là nhóm người khuyết tật nặng, người khuyết tật đặc biệt nặng theo quy định pháp luật về người khuyết tật.
Thứ bảy là nhóm trẻ em dưới 3 tuổi thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo không thuộc đối tượng quy định nêu trên đang sống tại địa bàn các xã, thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đặc biệt khó khăn.
Cuối cùng là nhóm người nhiễm HIV/AIDS thuộc diện hộ nghèo không có tiền lương, tiền công, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng.
Mức trợ cấp xã hội hằng tháng
Trợ cấp hằng tháng được tính bằng 540.000 đồng nhân với hệ số tùy từng nhóm đối tượng.
Cụ thể, trẻ em thuộc diện bảo trợ xã hội dưới 4 tuổi được hưởng hệ số 2,5, tương đương 1,35 triệu đồng/tháng. Người từ 4 tuổi trở lên thuộc nhóm này hưởng hệ số 1,5, tương đương 810.000 đồng/tháng.
Người khuyết tật đặc biệt nặng hưởng hệ số 2, tương đương 1,08 triệu đồng/tháng; trẻ em hoặc người cao tuổi là người khuyết tật đặc biệt nặng hưởng hệ số 2,5, tương đương 1,35 triệu đồng/tháng.
Người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người phụng dưỡng được hưởng hệ số 1,5 nếu từ 60 đến dưới 75 tuổi và hệ số 2 nếu từ 75 tuổi trở lên. Trường hợp đủ điều kiện nhưng không thể sống tại cộng đồng và có người nhận chăm sóc tại cộng đồng được hưởng hệ số 3.
Trường hợp một người thuộc nhiều nhóm được hưởng trợ cấp thì về nguyên tắc chỉ hưởng mức cao nhất. Riêng người đơn thân nghèo nuôi con đồng thời thuộc một số nhóm đối tượng khác được hưởng cả hai chế độ theo quy định.
Nghị định cũng quy định người thuộc diện trợ giúp xã hội đang học từ mầm non đến đại học được hưởng các chính sách hỗ trợ giáo dục, đào tạo theo quy định.

