Chấm dứt ô nhiễm nhựa là con đường tất yếu
Tác động của rác thải nhựa là một vấn nạn của toàn cầu và ảnh hưởng xấu tới mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn của nước ta. Ảnh hưởng rõ nhất là môi trường đất, nước, không khí và đa dạng sinh học bởi nó không thể phân hủy ngay mà mất tới hàng trăm năm. Trong quá trình đốt, nhựa cũng sinh ra rất nhiều khí thải ảnh hưởng xấu tới chất lượng không khí và sức khỏe con người.
Theo Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP), mỗi năm thế giới tạo ra hơn 400 triệu tấn nhựa, phần lớn là sản phẩm dùng một lần gây ô nhiễm đại dương và đe dọa hệ sinh thái. Nếu không có biện pháp can thiệp, lượng nhựa rò rỉ ra môi trường có thể tăng thêm 50% vào năm 2040.
Tại Việt Nam, khoảng 1,8 triệu tấn rác thải nhựa phát sinh hằng năm, trong đó 280.000–730.000 tấn trôi ra biển, nhưng tỷ lệ tái chế mới đạt khoảng 27%. Những con số này đặt ra yêu cầu cấp bách cho các đô thị lớn trong việc đổi mới phương thức quản lý và giảm thiểu phát sinh nhựa. Từ thực tiễn này, Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Quàng Văn Hương kiến nghị hai quan điểm cần quan tâm liên quan đến rác thải, đặc biệt với rác thải nhựa.
Thứ nhất, kiên định với chủ trương phát triển kinh tế hài hòa với thiên nhiên, không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế. Thứ hai, áp dụng hiệu quả nguyên tắc người gây ô nhiễm phải chi trả chi phí xử lý và bồi thường về thiệt hại; người hưởng lợi từ các giá trị môi trường phải trả tiền; tiếp tục đẩy mạnh sự tham gia của doanh nghiệp, tổ chức cộng đồng và người dân trong bảo vệ môi trường. Đồng thời, phải chuyển nhận thức và hành động từ trách nhiệm, nghĩa vụ sang ý thức tự giác trách nhiệm trước cộng đồng và đồng hành thực hiện.
Cùng với đó, đại biểu Quốc hội Quàng Văn Hương cũng kiến nghị một số nhóm nhiệm vụ giải pháp chính: Thứ nhất, xây dựng, thực hiện các chương trình khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trong bảo vệ môi trường; phát triển các chuyên ngành khoa học mũi nhọn trong tái chế chất thải; sản xuất vật liệu thân thiện với môi trường.
Thứ hai, tổng kết việc thực hiện Luật Bảo vệ môi trường 2020, trình Quốc hội xem xét xử, điều chỉnh một số điều và sửa đổi quy định về lộ trình thời gian áp dụng đối với chính sách về phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại hộ gia đình cá nhân.
Thứ ba, tăng cường quản lý chất thải rắn và chất thải nguy hại thông qua các nhiệm vụ giải pháp chủ trương hướng đến năm 2030 và các năm tiếp theo tập trung vào 4 vấn đề lớn: Thực hiện nghiêm quy định về thu gom phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại hộ gia đình cá nhân; Đẩy mạnh thu hồi chất thải có khả năng tái chế; Chuyển đổi công nghệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt tiên tiến thân thiện môi trường; Ưu tiên tái chế xử lý chất thải kết hợp với thu hồi năng lượng thay cho chôn lấp. Thứ tư, phấn đấu đến năm 2030, tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt đô thị được thu gom, xử lý đạt 50%; tỷ lệ chất thải rắn nông thôn thu gom xử lý đạt 85 %.
Thứ năm, tổ chức thực hiện nghiêm các quy định về trách nhiệm của nhà sản xuất nhập khẩu trong thu hồi tái chế sản phẩm bao bì thải bỏ; có cơ chế thúc đẩy hình thành tổ chức trung gian tham gia việc thu gom tái chế; nghiên cứu bổ sung đối tượng chịu thuế đối với một số loại sản phẩm, thực phẩm bao bì đồ tiêu dùng trong sinh hoạt chất thải có khả năng tái chế.
Thứ sáu, phát triển mạnh ngành công nghiệp tái chế, khuyến khích sử dụng tiêu thụ các sản phẩm từ quá trình xử lý chất thải rắn để góp phần thúc đẩy kinh tế xanh - kinh tế tuần hoàn - kinh tế carbon hài hòa với tự nhiên và thân thiện môi trường.

Xây dựng ý thức tự giác, trách nhiệm của cộng đồng nhằm đẩy lùi ô nhiễm nhựa.
PGS.TS Bùi Thị An - Viện trưởng Viện Tài nguyên, Môi trường và Phát triển cộng đồng cho rằng, để giảm thiểu rác thải nhựa, phát triển công nghệ tái chế thì Nhà nước cần phải có chính sách hỗ trợ giai đoạn đầu cho các doanh nghiệp tái chế. Có như vậy mới hình thành được khu công nghiệp tái chế rác thải, ngành tái chế khi đó mới phát triển bài bản, khoa học và đảm bảo an toàn.
Việc quản lý việc giảm thiểu rác thải nhựa là một hệ thống các hoạt động nhằm cắt giảm lượng nhựa sử dụng và thải ra môi trường, bao gồm việc ban hành chính sách, xây dựng quy định pháp lý, tăng cường truyền thông nâng cao ý thức cộng đồng, và áp dụng các biện pháp cụ thể như: hạn chế đồ nhựa dùng một lần, thay thế bằng sản phẩm thân thiện môi trường, tái sử dụng và tái chế nhựa. Mục tiêu cùng hướng đến để xây dựng một nền kinh tế tuần hoàn, hạn chế ô nhiễm và bảo vệ môi trường.
Việt Nam đang đứng trước yêu cầu xây dựng một thị trường tái chế thực sự hiệu quả, nơi doanh nghiệp được khuyến khích đầu tư vào công nghệ xanh, còn người tiêu dùng được hỗ trợ để thay đổi thói quen tiêu dùng. Đó là những “nút thắt” cần tháo gỡ không chỉ bằng lời kêu gọi, mà bằng chính sách nhất quán, hỗ trợ tài chính và sự điều phối mạnh mẽ từ trung ương đến địa phương.
Giữa bức tranh môi trường đầy biến động, nguồn lực lớn nhất và bền vững nhất của Việt Nam chính là con người, đặc biệt là thế hệ trẻ, năng động, sáng tạo và ngày càng nhận thức rõ ràng hơn về trách nhiệm của mình đối với hành tinh. Chính lực lượng này đang đóng vai trò như nền tảng xã hội cốt lõi, nâng đỡ cho một mô hình tăng trưởng mới – nơi phát triển kinh tế không đối nghịch với môi trường, mà song hành, hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau. Họ chính là người khởi xướng, người hành động, từ việc chọn lựa sản phẩm thân thiện với môi trường đến sáng tạo ra các giải pháp công nghệ xanh. Nếu được khơi dậy đúng cách và hỗ trợ bởi các chính sách phù hợp, nguồn lực con người này hoàn toàn có thể trở thành động lực chủ đạo, dẫn dắt Việt Nam tiến nhanh và bền vững trên con đường phát triển xanh.
Chấm dứt ô nhiễm nhựa không còn là lựa chọn. Đó là con đường tất yếu nếu nhân loại còn muốn giữ lại màu xanh trên bản đồ sinh tồn của mình. Và Việt Nam, với quyết tâm chính trị, nền tảng pháp lý và động lực xã hội ngày càng mạnh mẽ, hoàn toàn có thể trở thành hình mẫu chuyển đổi xanh ở Đông Nam Á, nếu biết tận dụng đúng thời điểm để bứt phá.
Nguồn CAND: https://cand.com.vn/doi-song/cham-dut-o-nhiem-nhua-la-con-duong-tat-yeu-i795073/











