Bừng thức nghệ thuật của đá

Đề án 'Bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật chế tác thủ công trong điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước gắn với quảng bá và phát triển sản phẩm du lịch tại Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia gghề điêu khắc mỹ nghệ đá Non Nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045' đã được UBND thành phố Đà Nẵng thông qua.

Du khách nước ngoài tham quan Làng đá mỹ nghệ Non Nước. Ảnh: VĨNH LỘC

Du khách nước ngoài tham quan Làng đá mỹ nghệ Non Nước. Ảnh: VĨNH LỘC

Từ Quán Khái Đông đến làng nghề di sản

Gần 4 thế kỷ trôi qua kể từ ngày những lưu dân Thanh - Nghệ dừng chân dưới chân núi Ngũ Hành Sơn, nghề điêu khắc đá Non Nước vẫn tồn tại như một mạch ngầm bền bỉ.

Theo tư liệu văn bia, truyền khẩu và các ghi chép lịch sử, nghề đá Non Nước hình thành từ nửa đầu thế kỷ 17, khởi nguồn từ làng Quán Khái Đông - tiền thân của làng nghề hôm nay. Dòng họ Huỳnh Bá được xem là những người đầu tiên khai sinh nghề đá ở đây.

Theo Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, làng nghề được hình thành từ giữa thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 18. Ban đầu sản phẩm làm ra chủ yếu để phục vụ cuộc sống sinh hoạt hằng ngày của người dân địa phương.

Đến khoảng đầu thế kỷ 19, khi triều Nguyễn cho xây dựng nhiều cung điện, lăng tẩm... nghề đá ở đây có điều kiện phát triển. Nhiều nghệ nhân làng nghề Non Nước được tuyển ra kinh đô Huế tham gia xây dựng lăng tẩm, cung điện; có người được phong hàm Cửu phẩm - minh chứng cho vị thế đặc biệt của nghề trong hệ thống thủ công truyền thống Việt Nam.

Bước sang thế kỷ 20, đá Non Nước vượt ra không gian làng xã. Làng nghề tiếp tục khẳng định vị thế trong không gian văn hóa quốc tế thông qua việc tham gia Hội chợ thuộc địa Marseille năm 1922. Cũng trong đầu thế kỷ 20, Bảo tàng Chăm được người Pháp xây dựng tại Đà Nẵng.

Ngày nay, tiếng búa, tiếng đục tại Làng đá mỹ nghệ Non Nước vẫn đều đặn vang lên, nối liền bao thế hệ nghệ nhân đã dốc cả đời cho từng đường chạm, từng khối đá. Ảnh: Tư liệu

Ngày nay, tiếng búa, tiếng đục tại Làng đá mỹ nghệ Non Nước vẫn đều đặn vang lên, nối liền bao thế hệ nghệ nhân đã dốc cả đời cho từng đường chạm, từng khối đá. Ảnh: Tư liệu

Nghệ nhân Nguyễn Chất là người có công mở đường cho sản phẩm theo mô típ tượng Chăm của nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước. Từ đây nghề điêu khắc đá có bước phát triển đa dạng về sản phẩm, đồng thời tay nghề của người thợ cũng có bước phát triển vượt bậc. Làng nghề cũng đã đóng góp đá quý để xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Sau năm 1975, làng nghề được tổ chức lại theo mô hình hợp tác xã, từng bước thích ứng với cơ chế thị trường, trở thành một trung tâm sản xuất thủ công mỹ nghệ quy mô lớn của miền Trung.

Kết tinh giá trị văn hóa nghệ thuật

Điêu khắc đá Non Nước không chỉ tạo ra sản phẩm, mà tạo nên một không gian văn hóa nghề. Từ tượng Phật, linh vật, bia đá đến phù điêu, trang sức, mỗi tác phẩm đều phản ánh đời sống tín ngưỡng, mỹ cảm dân gian và sự giao thoa văn hóa Chăm - Việt.

Kỹ thuật đục, mài, tạo hình được truyền dạy theo mô hình “thầy - trò”, “cha truyền con nối”, hình thành bản sắc riêng không lẫn với bất kỳ làng nghề đá nào khác.

Với lịch sử gần 400 năm, làng nghề đã hình thành một không gian văn hóa đặc thù, nơi bảo tồn và lan tỏa các giá trị vật thể lẫn phi vật thể qua nhiều thế hệ. Chính từ nền tảng lịch sử - văn hóa bền vững ấy, các giá trị của nghề được thể hiện rõ nét trên nhiều phương diện khác nhau.

Theo các nhà nghiên cứu, ở phương diện văn hóa, nghề phản ánh mối quan hệ gắn bó giữa con người và môi trường tự nhiên, thể hiện qua sự liên kết bền chặt của cộng đồng Quán Khái Đông với cụm núi Ngũ Hành Sơn - nguồn nguyên liệu và cảm hứng sáng tác chủ đạo.

Hệ sản phẩm đa dạng từ đồ dùng sinh hoạt (bia mộ, cối xay, chày, vật dụng gia đình) đến trang sức nhỏ (vòng, nhẫn, chuỗi hạt, chặn giấy) và các tác phẩm thờ tự - tín ngưỡng (tượng Phật, linh vật, phù điêu mang ý nghĩa bảo hộ, hướng thiện).

Giá trị văn hóa của làng nghề vì thế được biểu đạt rõ nhất qua chính sản phẩm - nơi tinh hoa và truyền thống được “thổi hồn” bởi bàn tay nghệ nhân.

Năm 2014, nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi danh Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia - là làng nghề đầu tiên của Đà Nẵng đạt danh hiệu này. Đây là sự ghi nhận chính thức cho giá trị văn hóa - nghệ thuật và sức sống cộng đồng của nghề.

Trụ cột kinh tế và động lực du lịch

Đến năm 2025, làng nghề có hơn 380 cơ sở sản xuất, tạo việc làm cho khoảng 1.200 - 1.300 lao động, với thu nhập bình quân khoảng 12 triệu đồng/người/tháng; doanh thu hằng năm ước đạt 460 tỷ đồng.

Sản phẩm đá Non Nước đã xuất khẩu sang nhiều thị trường như Nhật Bản, Hàn Quốc, châu Âu, Bắc Mỹ…, góp phần định vị thương hiệu thủ công mỹ nghệ Việt Nam trên bản đồ quốc tế.

Cụm núi Non Nước nhìn từ trên cao. Ảnh: BẢO LÂM

Cụm núi Non Nước nhìn từ trên cao. Ảnh: BẢO LÂM

Quan trọng hơn, làng nghề nằm trong không gian du lịch trọng điểm Ngũ Hành Sơn, nơi mỗi năm đón hơn 2 triệu lượt khách. Tuy nhiên, thực tế cho thấy phần lớn du khách mới dừng lại ở mua sắm, ít có cơ hội trải nghiệm sâu quá trình chế tác - khoảng trống lớn trong việc phát huy giá trị di sản gắn với du lịch văn hóa.

Đô thị hóa nhanh, cấm khai thác đá tại chỗ để bảo vệ di tích, sự phụ thuộc vào nguyên liệu nhập từ bên ngoài, cùng nguy cơ mai một kỹ thuật thủ công tinh xảo ở lớp nghệ nhân cao tuổi đang đặt làng nghề trước nhiều thách thức.

Không gian truyền thống bị thu hẹp; nghi lễ, tri thức nghề chưa được tư liệu hóa đầy đủ; lớp trẻ ít mặn mà với nghề nặng nhọc, đòi hỏi kiên nhẫn. Bên cạnh đó là áp lực môi trường: bụi đá, tiếng ồn, nước thải từ hoạt động gia công nếu không được kiểm soát sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng và hình ảnh điểm đến.

Theo đề án bảo tồn làng nghề đã được thông qua, trong quá trình phát triển du lịch bền vững gắn với văn hóa bản địa, các làng nghề truyền thống ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo lập sản phẩm du lịch đặc thù, thúc đẩy sinh kế địa phương và bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể.

Làng nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước không chỉ là nơi lưu giữ kỹ thuật thủ công độc đáo mà còn là cái nôi nuôi dưỡng các hoạt động sáng tác nghệ thuật điêu khắc.

Từ thực tiễn làng nghề, việc bảo tồn có chọn lọc và phát huy sáng tạo được đặt ra. Các kỹ thuật thủ công tinh xảo cần được ưu tiên bảo tồn, truyền dạy bài bản; song song đó là hỗ trợ nghệ nhân tiếp cận công nghệ mới để nâng cao năng suất, giảm lao động nặng và bảo vệ môi trường.

Đáng chú ý, việc ứng dụng công nghệ số - từ số hóa quy trình, kể câu chuyện sản phẩm đến gắn chip blockchain cho tác phẩm đoạt giải - đang mở ra hướng đi mới cho việc bảo hộ bản quyền và quảng bá toàn cầu. Tuy nhiên, công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi được đặt trên nền tảng bản sắc nghề và chiến lược quản trị dài hạn.

Hiện tại, thành phố Đà Nẵng đặt mục tiêu bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật của nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước trong đời sống đương đại, gắn với Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi Danh lam thắng cảnh quốc gia đặc biệt Ngũ Hành Sơn.

Đồng thời làng nghề tập trung phát triển các sản phẩm điêu khắc mỹ nghệ tinh xảo mang bản sắc văn hóa Đà Nẵng nói chung và Ngũ Hành Sơn nói riêng; nâng cao năng lực kế thừa và tái sáng tạo của nghề, năng lực cạnh tranh thị trường và thu nhập của người lao động.

HẢI TÂN

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/bung-thuc-nghe-thuat-cua-da-3323823.html