Ba tôi - người thương binh đi ra từ khói lửa chiến tranh

Việc tìm thấy hài cốt các liệt sĩ tại Công viên Lê Thị Riêng, TP Hồ Chí Minh những ngày gần đây khiến cả nước lặng đi trong niềm xúc động. Dưới những tán cây xanh, giữa nhịp sống bình yên của Thành phố hôm nay, từng có biết bao người con ưu tú của dân tộc ngã xuống. Họ ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ, mang theo những ước mơ còn dang dở về gia đình, về quê hương, về một ngày đất nước thanh bình.

Chiến tranh đã lùi xa, có người trở về trong vòng tay của người thân, của đồng đội sau hàng chục năm nằm lại nơi chiến trường. Có người vẫn còn chưa tìm được tên giữa lòng đất mẹ. Và cũng có những người may mắn sống sót, nhưng suốt phần đời còn lại vẫn mang trên mình những vết thương không bao giờ lành. Họ vẫn sống cùng chiến tranh mỗi ngày. Những mảnh đạn còn nằm trong cơ thể. Những cơn đau âm ỉ. Những đêm giật mình vì tiếng bom vọng về từ ký ức. Những gương mặt đồng đội đã ngã xuống vẫn hiện lên nguyên vẹn sau bao năm tháng.

Ba chồng tôi là một người như thế.

Ba tôi là Nguyễn Văn Hữu, sinh tháng 5-1948. Năm nay, ba đã bước sang tuổi bảy mươi chín.

Bảy mươi chín năm cuộc đời của ba là bảy mươi chín năm đi qua gần như trọn vẹn những biến động lớn nhất của dân tộc.

Ba chưa từng có một tuổi trẻ bình yên như thế hệ chúng tôi hôm nay. Khi Tổ quốc còn chìm trong khói lửa, cũng như biết bao thanh niên của thế hệ mình, ba đã gác lại tất cả để lên đường theo tiếng gọi thiêng liêng của non sông.

Từ tháng 1-1964 đến tháng 11-1967, ba tôi tham gia vận động thanh niên Việt kiều tòng quân đánh giặc tại huyện Peam Chor, tỉnh Prey Veng, Campuchia.

Sau khi tổ chức bị lộ, ba thoát ly gia đình theo các anh, các chú tham gia Tiểu đoàn Vinh Quang (lực lượng An ninh vũ trang T4) - là đơn vị đặc biệt bảo vệ các cơ quan đầu não cách mạng miền Nam.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, ba cùng đồng đội 3 lần tiến vào nội ô Sài Gòn.

Sau đợt 1 Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, ba được chuyển sang Tiểu đoàn 6 Bình Tân, Phân khu 2. Đó là những ngày mà sự sống và cái chết gần nhau hơn bao giờ hết. Không ai biết liệu mình có thể trở về sau mỗi trận đánh. Nhưng cũng chẳng ai chùn bước.

Từ đây, ba trải qua những năm tháng ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đó là những đêm hành quân xuyên rừng trong mưa bom, bão đạn. Là những bữa cơm vội giữa chiến hào. Là những lần sự sống và cái chết chỉ cách nhau trong gang tấc.

Thương binh Nguyễn Văn Hữu (thứ hai, từ trái sang) cùng đồng đội Tiểu đoàn 6 Bình Tân trong một lần gặp mặt kỷ niệm.

Thương binh Nguyễn Văn Hữu (thứ hai, từ trái sang) cùng đồng đội Tiểu đoàn 6 Bình Tân trong một lần gặp mặt kỷ niệm.

Những ngày đầu tháng 5-1968, trong đợt 2 của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, ba bị trúng đạn gãy chân. Đồng đội thay phiên nhau gánh ba trên cáng võng đưa về căn cứ. Bất ngờ địch phát hiện. Loạt đạn đại liên xé toạc không gian. Một viên đạn bắn trúng sợi dây buộc đầu võng, ngay sát đầu ba. Sợi dây đứt. Phần đầu võng đổ sập. Lưng và đầu ba đập mạnh xuống nền bê tông. Cơn đau như xé toạc toàn thân. Nhưng điều ba lo nhất lúc ấy không phải là mình. Ba chỉ sợ đồng đội vì cứu mình mà hy sinh.

Đến tháng 10-1971, ba được chuyển sang làm Phó đại đội trưởng rồi Quyền đại đội trưởng Đại đội 2, Tiểu đoàn 1 Long An, Phân khu 23 (Tiểu đoàn 1 nay thuộc Trung đoàn 738, Bộ CHQS tỉnh Tây Ninh).

Tháng 6-1972, trong một trận đánh khác trên quê hương Long An, ba bị thương đặc biệt nặng. Đạn xuyên qua người, phổi bị thủng, ruột đứt 4 đoạn, xương đùi gãy. Máu chảy quá nhiều. Ba bất tỉnh ngay giữa chiến trường.

Khi tỉnh lại, điều đầu tiên ba nhìn thấy không phải đồng đội, cũng không phải lá cờ đỏ sao vàng, mà là nhà tù của địch. Ba đã bị địch bắt.

Tháng 3-1973, nhờ Hiệp định Paris, ba được trao trả. Ngày trở về ấy, theo tôi, không đơn thuần là trở về với đơn vị. Đó là sự hồi sinh ba trở về với đồng đội, trở về với cách mạng. Trở về với màu cờ đỏ sao vàng mà ba đã dành trọn tuổi thanh xuân để bảo vệ vẹn nguyên.

Mùa Xuân năm 1975. Ba tôi, khi ấy thuộc Đại đội 54Q, Bộ Tổng Tham mưu, làm nhiệm vụ xét hỏi tù binh, tiếp tục cùng đồng đội tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Ngày 30-4-1975, ba cùng đơn vị tiến vào nội ô Sài Gòn, tham gia tiếp quản thành phố. Khoảnh khắc lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên bầu trời độc lập, chiến tranh đã chính thức khép lại.

Miền Nam hoàn toàn giải phóng. Đất nước liền một dải. Ba còn sống. Đó có lẽ là chiến công lớn nhất. Bởi nếu ngày ấy ba không trở về, sẽ không có gia đình của chúng tôi hôm nay. Sẽ không có những đứa con được gọi hai tiếng “ba ơi”. Sẽ không có những bữa cơm sum họp tưởng như bình dị mà vô cùng thiêng liêng. Nhưng điều ba nhắc nhiều nhất chưa bao giờ là chiến công. Điều ba nhớ nhất luôn là đồng đội. Là những người đã cùng mình chia từng ngụm nước, từng nắm cơm. Là những người sáng còn cười nói, chiều đã nằm lại giữa chiến trường.

Đại diện Đảng ủy, HĐND, UBND và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã Bến Lức, tỉnh Tây Ninh, thăm thương binh Nguyễn Văn Hữu (đứng giữa) dịp 30-4-2026.

Đại diện Đảng ủy, HĐND, UBND và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã Bến Lức, tỉnh Tây Ninh, thăm thương binh Nguyễn Văn Hữu (đứng giữa) dịp 30-4-2026.

Chiến tranh kết thúc, nhưng vết thương chiến tranh thì không. Trên cơ thể ba, những dấu tích không bao giờ có thể xóa nhòa - ba bị gãy xương đùi, thủng phổi, đứt bốn đoạn ruột. Đau đớn nhất là vết thương do viên đạn đại liên xuyên qua cột sống.

Những vết thương ấy khiến ba được xác định mang thương tật 81%. Những mảnh đạn vẫn nằm trong cơ thể ba, những cơn đau như xé thịt khi trái gió trở trời khiến ba không trọn giấc. Đôi chân không còn nhanh nhẹn như xưa. Thế nhưng, chưa bao giờ tôi nghe ba than trách số phận. Ba luôn sống lạc quan, luôn yêu đời và tin vào cuộc sống. Ba thường nói với chúng tôi bằng giọng rất bình thản: “Ba còn may mắn hơn nhiều đồng đội của mình, vì ba còn được sống, còn được nhìn thấy đất nước hòa bình”.

Ngày 30-4-2025, nửa thế kỷ sau ngày đất nước thống nhất, ba vinh dự được lãnh đạo TP Hồ Chí Minh mời tham dự Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Hôm ấy, ba mặc lại bộ quân phục. Trên ngực áo là những tấm huân chương, huy chương đã nhuốm màu thời gian. Mái tóc đã bạc. Lưng không còn thẳng như ngày còn là chàng trai tuổi đôi mươi và bước chân cũng chậm hơn, nhưng ánh mắt ba vẫn sáng.

Giữa hàng nghìn người có mặt trong buổi lễ hôm ấy. Bất chợt tôi nhận ra ba không chỉ là ba của riêng chúng tôi. Ba là một phần của lịch sử. Một người lính đã đi qua chiến tranh bằng xương máu và nước mắt.

Tháng Bảy lại về. Những cơn mưa đầu mùa rơi nhẹ như những giọt ký ức của thời gian. Khắp mọi miền đất nước, những ngọn nến tri ân lại được thắp lên. Những nghĩa trang liệt sĩ lại rực sáng trong ánh nến. Những chuyến đi tìm đồng đội vẫn tiếp tục. Những người mẹ vẫn lặng lẽ ôm di ảnh con. Và những người thương binh như ba tôi vẫn âm thầm sống giữa đời thường, mang theo chiến tranh trong từng vết sẹo của cơ thể.

Nhân Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27-7), con chỉ muốn nói với ba một điều thật giản dị: “Con biết ơn ba. Biết ơn vì ba đã dũng cảm chiến đấu vì Tổ quốc. Biết ơn vì ba đã vượt qua những tháng ngày khốc liệt nhất để trở về. Biết ơn vì ba đã dành cả cuộc đời để sống tử tế, sống nghĩa tình và dạy chúng con biết yêu quê hương, yêu đất nước, biết trân trọng hòa bình”.

Xin được cúi đầu tri ân các anh hùng liệt sĩ. Xin được kính chúc các Bà mẹ Việt Nam anh hùng, các thương binh, bệnh binh và người có công với cách mạng luôn mạnh khỏe, bình an. Xin được nói với ba của con: “Con vô cùng tự hào vì được làm con của ba”.

BÙI THỊ VIỆT AN

Nguồn QĐND: https://www.qdnd.vn/phong-su-dieu-tra/ky-su/ba-toi-nguoi-thuong-binh-di-ra-tu-khoi-lua-chien-tranh-1050502