Đặt công nghiệp văn hóa vào đúng vị trí

Văn hóa hiện nay được định vị là trụ cột phát triển, là 'sức mạnh mềm' và nguồn lực nội sinh quan trọng trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc để biến di sản thành tài sản, biến bản sắc thành động lực kinh tế bền vững.

Mở rộng hình thức hợp tác công - tư cho thiết chế văn hóa, thể thao sẽ khơi thông nguồn vốn xã hội cho công nghiệp văn hóa phát triển

Mở rộng hình thức hợp tác công - tư cho thiết chế văn hóa, thể thao sẽ khơi thông nguồn vốn xã hội cho công nghiệp văn hóa phát triển

Chuyển hóa thành giá trị kinh tế

Đơn cử, Hà Nội là thành phố đầu tiên của Việt Nam trở thành thành viên của Mạng lưới các Thành phố Sáng tạo UNESCO (UCCN) vào năm 2019 trong lĩnh vực thiết kế. Trong các cuộc làm việc, Tổng Bí thư Tô Lâm nhiều lần nhấn mạnh, Hà Nội phải là “hình mẫu phát triển văn hóa của cả nước”. Đây cũng là thành phố đầu tiên ban hành Nghị quyết về phát triển các ngành công nghiệp văn hóa. Đây là bước ngoặt thể chế quan trọng, hướng tới mô hình thiết chế đa chức năng, tích hợp sáng tạo - sản xuất - trưng bày - đào tạo - thương mại hóa sản phẩm văn hóa. Mô hình này sẽ chuyển hóa nguồn lực văn hóa thành giá trị kinh tế, đồng thời bảo đảm tính bền vững xã hội và bản sắc văn hóa.

Trong khi đó, với bề dày lịch sử, hệ thống di sản phong phú cùng vị thế là thành phố cảng sôi động, Hải Phòng từng bước đầu tư đưa tài nguyên, di sản văn hóa thành sản phẩm để khai thác giá trị kinh tế. Vừa qua, thành phố triển khai dự án “Dấu thiêng Hàng Kênh” trên nền tảng công nghệ trình diễn 3D mapping, kết hợp nghệ thuật dân gian, xem múa rối nước, hát cửa đình (một hình thức quan trọng của ca trù - di sản phi vật thể đã được UNESCO công nhận), trải nghiệm văn hóa ẩm thực. Lãnh đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch TP. Hải Phòng khẳng định, khi những sự kiện văn hóa, nghệ thuật được tổ chức chuyên nghiệp, bài bản sẽ là “sản phẩm văn hóa” chất lượng, thể hiện hiệu quả trong khai thác giá trị kinh tế của văn hóa. Năm 2026, Hải Phòng phấn đấu đón 16 triệu lượt và đặt mục tiêu đón 25 triệu lượt du khách, doanh thu từ du lịch đạt 50.000 tỷ đồng vào năm 2030.

Hấp dẫn hơn, có sức cạnh tranh hơn

Từ những tín hiệu vui của thực tiễn địa phương, PGS.TS. Bùi Hoài Sơn, Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội khóa XV, Đại biểu Quốc hội khóa XVI của TP. Hà Nội cho rằng, trong thời kỳ đổi mới đất nước, tư duy và nhận thức về vai trò của văn hóa tiếp tục có những bước phát triển mới; thể chế, chính sách, nguồn lực đầu tư cho phát triển văn hóa được tăng cường; công nghiệp văn hóa đang trên đà phát triển. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh, phát triển mạnh các ngành công nghiệp văn hóa và dịch vụ văn hóa nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân. Khi các giá trị văn hóa được nhận diện đầy đủ và đầu tư khai thác đúng hướng góp phần bảo tồn bản sắc và trở thành nguồn lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Đặc biệt, Nghị quyết số 80-NQ/ TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đã đặt văn hóa vào đúng vị trí của một trụ cột chiến lược trong cấu trúc phát triển quốc gia. Nghị quyết không nhìn văn hóa như một lĩnh vực đứng bên cạnh kinh tế, chính trị, xã hội, mà nhìn văn hóa như sức mạnh nội sinh quan trọng, như hệ điều tiết bảo đảm cho sự phát triển nhanh nhưng vẫn bền vững, hiện đại nhưng không mất gốc, hội nhập sâu rộng nhưng vẫn giữ được bản lĩnh và bản sắc Việt Nam. Khi văn hóa được đặt ở tầm chiến lược, chúng ta có cơ sở để đòi hỏi những chính sách đột phá hơn, nguồn lực mạnh hơn, cách làm bài bản hơn và đặc biệt là một sự vào cuộc đồng bộ hơn của cả hệ thống chính trị.

Cùng chung nhận định này, một chuyên gia cho rằng, muốn phát triển mạnh các ngành công nghiệp văn hóa trước hết phải thay đổi dứt khoát cách nhìn. Không thể tiếp tục coi công nghiệp văn hóa là phần phụ của văn hóa, càng không thể coi đó chỉ là hoạt động biểu diễn, giải trí đơn thuần. Để hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp công nghiệp văn hóa, điều quan trọng nhất là phải tạo ra môi trường nuôi dưỡng sáng tạo. Môi trường ấy gồm nhiều tầng nấc: Thể chế thông thoáng, quỹ hỗ trợ sáng tạo, ưu đãi thuế và tín dụng, không gian sáng tạo, trung tâm ươm tạo tài năng, nền tảng số để phân phối sản phẩm, hệ thống dữ liệu văn hóa mở, và cơ chế kết nối giữa nghệ sĩ, doanh nghiệp, nhà đầu tư, công nghệ, giáo dục và du lịch.

Song theo PGS. TS. Bùi Thị An, Viện trưởng Viện tài nguyên, môi trường và Phát triển cộng đồng, nguyên đại biểu Quốc hội khóa XIII nhấn mạnh đến sự chuyển mình mạnh mẽ từ tư duy “Nhà nước bao cấp” sang mô hình huy động tổng lực xã hội cho văn hóa. Việc mở rộng hình thức hợp tác công - tư cho thiết chế văn hóa, thể thao sẽ khơi thông nguồn vốn xã hội khổng lồ. Nhà nước không còn phải gánh toàn bộ chi phí xây dựng bảo tàng, nhà hát, khu sáng tạo mà chỉ đóng vai trò dẫn dắt, tạo điều kiện pháp lý và ưu đãi đất đai, thuế. Điều này dự kiến huy động được hàng nghìn tỷ đồng từ doanh nghiệp và cá nhân, biến văn hóa thành lĩnh vực đầu tư sinh lời bền vững. những chính sách này sẽ tạo ra tác động lan tỏa rõ rệt trong 5-10 năm tới. Nguồn lực xã hội được huy động sẽ giúp tháo gỡ triệt để điểm nghẽn về vốn và cơ chế, biến văn hóa thành ngành công nghiệp sáng tạo có đóng góp GDP đáng kể.

Khởi nghiệp công nghiệp văn hóa chính là làm cho bản sắc dân tộc bước vào đời sống đương đại bằng những hình thức hấp dẫn hơn, có sức cạnh tranh hơn. Khi đó, công nghiệp văn hóa không chỉ tạo ra doanh thu, việc làm hay tăng trưởng, mà còn góp phần kể câu chuyện Việt Nam ra thế giới bằng một ngôn ngữ mềm mại, thuyết phục và đầy tự tin.

Tuy nhiên, hệ sinh thái ấy chỉ bền vững khi có ba yếu tố đi cùng nhau: nhân lực, thị trường và bản sắc. Phải đào tạo một lớp nhân lực văn hóa mới vừa giỏi nghề, vừa hiểu công nghệ, vừa có năng lực quản trị và hội nhập. Phải mở rộng thị trường bằng thương hiệu quốc gia, bằng các sự kiện tầm cỡ, bằng xuất khẩu sản phẩm văn hóa và bằng sức mạnh của nền tảng số. Nhưng trên hết, phải giữ được hồn cốt Việt Nam trong mọi sản phẩm sáng tạo, PGS.TS. Bùi Hoài Sơn khẳng định.

Ái Nhiên

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/dat-cong-nghiep-van-hoa-vao-dung-vi-tri-180228.html