5 tháng cuối năm: Nâng sức hấp thụ, phát huy hiệu quả đồng vốn công

Sau 7 tháng, hơn 425.000 tỷ đồng vốn đầu tư công đã được đưa vào nền kinh tế, tương đương 41,9% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Con số này cao hơn đáng kể so với cùng kỳ, nhưng cũng cho thấy một thực tế: Hơn một nửa nguồn lực của năm vẫn đang chờ được chuyển hóa thành công trình, năng lực sản xuất và dư địa tăng trưởng. 5 tháng cuối năm vì thế là giai đoạn gỡ điểm nghẽn, tăng sức hấp thụ và nâng hiệu quả đồng vốn công.

Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1129/QĐ-TTg ngày 24/6/2026 phê duyệt phương án chấm điểm các Bộ, cơ quan Trung ương và địa phương về thực hiện giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công có ý nghĩa rất lớn. Ảnh: chinhphu.vn

Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1129/QĐ-TTg ngày 24/6/2026 phê duyệt phương án chấm điểm các Bộ, cơ quan Trung ương và địa phương về thực hiện giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công có ý nghĩa rất lớn. Ảnh: chinhphu.vn

5 tháng, phải giải ngân 58,1% kế hoạch

Theo Bộ Tài chính, đến ngày 31/7/2026, tổng vốn đầu tư công giải ngân trên cả nước ước đạt 425.312 tỷ đồng, bằng 41,9% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Trong đó, vốn ngân sách trung ương đạt 117.554,1 tỷ đồng, bằng 32,3%; vốn ngân sách địa phương đạt 307.757,9 tỷ đồng, bằng 47,3%. So với cùng kỳ năm 2025, kết quả giải ngân cao hơn 3,6% về tỷ lệ và 86.813,2 tỷ đồng về số tuyệt đối.

Nếu loại trừ khoảng 32.511,3 tỷ đồng, tương ứng 5% kế hoạch đầu tư công ngân sách địa phương dự kiến dành cho dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng và 9.648,2 tỷ đồng mới được bổ sung trong tháng, tỷ lệ giải ngân thực tế đạt khoảng 43,8% tổng kế hoạch.

Nhìn ở góc độ tích cực, dòng vốn công đang vận động nhanh hơn năm trước. Nhưng nhìn từ yêu cầu tăng trưởng và quy mô kế hoạch vốn năm 2026, con số 41,9% cũng đặt ra một câu hỏi lớn: Vì sao lượng vốn đã được bố trí rất lớn nhưng khả năng chuyển hóa thành khối lượng đầu tư thực tế vẫn chưa tương xứng?

Bộ Tài chính xác định các nhóm điểm nghẽn chính đang ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân 7 tháng đầu năm: Thiếu nguồn cung vật liệu xây dựng; khó khăn trong giải phóng mặt bằng; lập kế hoạch vốn chưa sát thực tế; quy trình giải ngân, đấu thầu và thủ tục với nhà tài trợ của dự án ODA còn phức tạp; việc nghiên cứu, lựa chọn giải pháp công nghệ đối với các dự án khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo mất nhiều thời gian; thời tiết bất lợi.

Chuyên gia kinh tế - PGS, TS. Ngô Trí Long - đánh giá, nhiều khó khăn trong giải ngân thực chất đã hình thành trước khi dự án bắt đầu. Đó có thể là chuẩn bị đầu tư chưa kỹ, dự báo nhu cầu chưa chính xác, khảo sát địa chất, thiết kế, dự toán chưa sát; giải phóng mặt bằng chưa hoàn tất; nguồn nguyên vật liệu chưa được xác định; thủ tục đất đai, môi trường, đấu thầu còn vướng.

Tổng kế hoạch đầu tư công năm 2026 được Quốc hội thông qua và Thủ tướng Chính phủ giao lên tới 1.014.234,2 tỷ đồng, hiện còn 83.216,4 tỷ đồng chưa được phân bổ. Nguồn lực này dự kiến dành cho các dự án khởi công mới sau khi hoàn tất thủ tục đánh giá hiệu quả và bố trí trong kế hoạch đầu tư công trung hạn 2026-2030; các chương trình mục tiêu quốc gia; nhiệm vụ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phần điều chỉnh giảm kế hoạch vốn năm 2026 theo Nghị quyết số 176/NQ-CP ngày 03/7/2026 của Chính phủ. Theo các chuyên gia, bài toán phía trước không chỉ là giải ngân phần vốn đã có, mà còn là phân bổ đúng và đưa thêm nguồn lực vào đúng nơi có khả năng hấp thụ, tạo giá trị.

Công trường dự án nút giao thông An Phú ở cửa ngõ phía Đông Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: TTXVN

Công trường dự án nút giao thông An Phú ở cửa ngõ phía Đông Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: TTXVN

Đo hiệu quả, không chỉ đếm đồng vốn

Để tháo gỡ điểm nghẽn, thúc đẩy giải ngân đầu tư công, theo PGS, TS. Ngô Trí Long, cần thực hiện nghiêm nguyên tắc “dự án đi trước, vốn đi sau”. Chỉ bố trí vốn khi dự án đạt mức độ sẵn sàng cần thiết; danh mục đầu tư công phải được sàng lọc dựa trên hiệu quả và khả năng thực hiện, thay vì chủ yếu dựa trên nhu cầu đăng ký.

Thực tế tại các địa phương có quy mô giải ngân lớn cho thấy, khi bộ máy thực thi chuyển từ tư duy “được giao vốn” sang “chịu trách nhiệm về khả năng hấp thụ vốn”, tiến độ có thể thay đổi đáng kể. Minh chứng, Hà Nội hiện là địa phương có quy mô giải ngân lớn, khoảng 76.200 tỷ đồng, cao hơn TP. Hồ Chí Minh với 63.700 tỷ đồng. Thành phố xác định nguyên tắc “không để vốn chờ dự án”, thành lập tổ chỉ huy giải ngân tại các xã, phường do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã làm tổ trưởng; xây dựng kế hoạch cụ thể về giải phóng mặt bằng, thi công, thanh toán cho từng dự án; phân công lãnh đạo trực tiếp theo dõi từng công trình. Thành phố cũng đặt ra nguyên tắc: đơn vị nào giải ngân chậm sẽ bị thu hồi vốn để điều chuyển cho đơn vị có khả năng giải ngân tốt hơn.

Tại TP. Hồ Chí Minh, mục tiêu đến ngày 30/9 giải ngân hơn 65% và đến cuối năm đạt 95-100% kế hoạch. Thành phố dự kiến xây dựng kế hoạch giải ngân theo từng tháng, từng quý cho từng dự án; tăng kiểm tra hiện trường; áp dụng KPI đối với đơn vị chậm; gắn kết quả giải ngân với đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của người đứng đầu.

Áp lực giải ngân trong 5 tháng cuối năm là rất lớn. Nhưng nếu chỉ dùng tỷ lệ giải ngân làm thước đo duy nhất, quản lý đầu tư công rất dễ rơi vào tình trạng chạy theo con số cuối kỳ.

Chính vì vậy, việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1129/QĐ-TTg ngày 24/6/2026 phê duyệt phương án chấm điểm các Bộ, cơ quan Trung ương và địa phương về thực hiện giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công có ý nghĩa rất lớn. Phương án này không chỉ nhằm thúc đẩy tiến độ mà còn hướng tới nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong thực thi công vụ.

Việc chấm điểm được chạy thử từ kỳ báo cáo tháng 7 đến tháng 9/2026 và chính thức áp dụng từ kỳ báo cáo tháng 10/2026. Đáng chú ý, điểm số được xây dựng trên cơ sở so sánh kết quả giải ngân của từng đơn vị với tỷ lệ giải ngân chung phải hoàn thành theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ; đồng thời tính đến việc chấp hành chế độ báo cáo và việc nhận hoặc điều chuyển vốn.

PGS, TS. Ngô Trí Long cho rằng, đánh giá hiệu quả sau đầu tư phải trở thành một khâu bắt buộc. Hiện nay, sự chú ý thường tập trung vào quyết định đầu tư, phân bổ vốn và giải ngân, trong khi câu hỏi một công trình sau 3-5 năm vận hành đã tạo ra giá trị gì chưa được coi trọng tương xứng. Kết quả đánh giá sau đầu tư cần quay trở lại tác động đến quyết định phân bổ vốn ở kỳ kế hoạch tiếp theo.

Cùng với đó là yêu cầu minh bạch và số hóa dữ liệu. Mỗi dự án lớn cần có một “hồ sơ số” xuyên suốt từ chủ trương đầu tư, tổng mức vốn, tiến độ, giải ngân, điều chỉnh vốn đến nghiệm thu và vận hành. Khi dữ liệu được liên thông giữa cơ quan tài chính, Kho bạc Nhà nước, chủ đầu tư và cơ quan giám sát, những dấu hiệu chậm trễ, đội vốn hoặc bất thường có thể được nhận diện sớm hơn. Đây cũng là cơ sở để phân cấp, phân quyền đi cùng trách nhiệm giải trình. Cần xác định vướng mắc ở khâu nào, thuộc thẩm quyền của ai, thời hạn xử lý bao lâu. Ngược lại, cơ chế trách nhiệm cũng phải tạo không gian cho những cán bộ dám quyết định, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung trong khuôn khổ pháp luật./.

XUÂN HỒNG

Nguồn Kiểm Toán: https://baokiemtoan.vn/vi/bai-viet/5-thang-cuoi-nam-nang-suc-hap-thu-phat-huy-hieu-qua-dong-von-cong