Văn minh sinh thái bắt đầu từ văn hóa
Trong bài viết 'Vì một nền văn minh sinh thái, một Việt Nam xanh và một đại dương hòa bình, bền vững', Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã gửi đi thông điệp có ý nghĩa sâu sắc: bảo vệ môi trường, bảo vệ đại dương, ứng phó biến đổi khí hậu không chỉ là nhiệm vụ kỹ thuật hay yêu cầu quản lý nhà nước, mà trước hết là một lựa chọn văn hóa, một thước đo văn minh và một trách nhiệm đạo đức của quốc gia trong kỷ nguyên phát triển mới.
Hệ giá trị phát triển mới
Giữa những biến động sâu sắc của thời đại - trái đất nóng lên, thời tiết cực đoan, nước biển dâng, hạn hán, lũ lụt, cháy rừng, xâm nhập mặn, suy giảm đa dạng sinh học, ô nhiễm môi trường biển và đại dương - vấn đề môi trường không còn là chuyện riêng của một ngành, một lĩnh vực, một địa phương. Đó là câu chuyện của an ninh quốc gia, an ninh con người, công bằng phát triển, đạo đức xã hội và sự trường tồn của dân tộc.
Nhìn từ chiều sâu văn hóa, đây chính là lời nhắc nhở rằng phát triển không thể chỉ đo bằng những con số tăng trưởng, những công trình bê tông, những khu đô thị mới hay những chỉ tiêu sản lượng. Phát triển phải được đo bằng chất lượng sống thực sự của nhân dân, bằng năng lực bảo vệ sự sống, bằng sự cân bằng giữa con người với thiên nhiên, giữa hiện tại với tương lai.

Kiến tạo một Việt Nam xanh là trách nhiệm của mọi người. Nguồn: baochinhphu.vn
Bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho thấy sự chuyển đổi căn bản về tư duy: từ coi thiên nhiên chủ yếu là đối tượng khai thác sang coi thiên nhiên là điều kiện tồn tại, là tài sản quốc gia, là di sản của các thế hệ mai sau. Một xã hội hiện đại và thịnh vượng phải là xã hội biết “làm giàu trong giới hạn sinh thái”, sử dụng tài nguyên với trách nhiệm. Đó không chỉ là một mệnh đề quản lý môi trường, mà là một tuyên ngôn văn hóa về mô hình phát triển của Việt Nam trong thế kỷ XXI.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhắc đến truyền thống văn hóa các vùng, miền và làng quê Việt Nam chứa đựng tinh thần hòa hợp với thiên nhiên; đồng thời yêu cầu trong thời đại mới, truyền thống ấy phải được nâng lên thành hệ giá trị phát triển hiện đại: tôn trọng tự nhiên, tiết kiệm tài nguyên, tiêu dùng có trách nhiệm, sản xuất sạch hơn, công nghệ xanh hơn, quản trị minh bạch hơn và công bằng hơn giữa các thế hệ. Đây là một gợi mở đặc biệt quan trọng. Bởi chuyển đổi xanh sẽ không thể thành công nếu chỉ dừng ở khẩu hiệu, phong trào hay một vài dự án thí điểm. Chuyển đổi xanh phải trở thành chuyển đổi văn hóa. Từ cơ quan nhà nước đến doanh nghiệp, từ đô thị đến nông thôn, từ trường học đến gia đình, từ chính sách vĩ mô đến hành vi hàng ngày, mỗi chủ thể đều phải thay đổi cách nghĩ, cách sống, cách sản xuất, cách tiêu dùng.
Một đô thị xanh không chỉ cần thêm cây xanh, mà cần một văn hóa đô thị biết tôn trọng không gian công cộng, bảo vệ sông hồ, giảm rác thải, ưu tiên giao thông công cộng, không đánh đổi cảnh quan và ký ức đô thị lấy lợi ích ngắn hạn. Một doanh nghiệp xanh không chỉ là doanh nghiệp có báo cáo phát triển bền vững đẹp, mà phải coi tuân thủ môi trường là tiêu chuẩn tồn tại, đổi mới xanh là điều kiện cạnh tranh. Một công dân xanh không chỉ yêu thiên nhiên trong cảm xúc, mà biết phân loại rác, tiết kiệm năng lượng, giảm nhựa dùng một lần, giữ sạch bãi biển, bảo vệ nguồn nước, chăm một cây xanh như chăm một phần tương lai của đất nước.
Vì thế, bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cần được hiểu như một lời hiệu triệu về xây dựng văn hóa sinh thái Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Đó là nền văn hóa không đối lập phát triển với bảo tồn, không tách kinh tế khỏi đạo đức, không đặt hiện đại hóa ở bên ngoài thiên nhiên. Trái lại, đó là nền văn hóa biết kết hợp sức mạnh của truyền thống thuận thiên với khoa học công nghệ hiện đại; biết biến tình yêu quê hương, đất nước thành hành động bảo vệ từng dòng sông, cánh rừng, bãi biển; biết coi một môi trường an toàn là điều kiện căn bản của hạnh phúc nhân dân.
Trách nhiệm kiến tạo một Việt Nam xanh
Nếu thiên nhiên là không gian sinh tồn của dân tộc, thì biển là một phần đặc biệt thiêng liêng của không gian ấy. Trong bài viết, biển không chỉ được nhìn như nguồn lợi kinh tế, mà là không gian sinh tồn, không gian chủ quyền, không gian văn hóa, không gian kết nối và không gian chiến lược của dân tộc Việt Nam. Đây là một cách tiếp cận sâu sắc, bởi nó đưa biển trở về đúng vị trí trong tâm thức và chiến lược phát triển quốc gia: biển không nằm ngoài văn hóa Việt Nam; biển là một phần của căn cước Việt Nam. Khi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh phát triển kinh tế biển xanh, hiện đại, có trách nhiệm, gắn với bảo vệ chủ quyền, sinh kế nhân dân và hòa bình trên biển, không chỉ mang ý nghĩa kinh tế hay an ninh mà còn là thông điệp văn hóa: yêu biển không thể chỉ là cảm xúc; yêu biển phải là năng lực bảo vệ biển, làm giàu từ biển một cách bền vững, tôn trọng luật pháp quốc tế, giữ gìn hòa bình, bảo vệ sinh kế ngư dân và các hệ sinh thái biển.
Việt Nam là quốc gia biển và cũng là quốc gia chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu. Những vùng ven biển miền Trung, đồng bằng sông Cửu Long, các đô thị ven biển, các cộng đồng ngư dân đang đối mặt với nước biển dâng, xâm nhập mặn, sạt lở, bão lũ, suy giảm nguồn lợi thủy sản và ô nhiễm. Những thách thức ấy không còn là cảnh báo xa xôi; chúng đã hiện diện trong từng mùa hạn mặn, từng mái nhà bị bão cuốn, từng vạt rừng ngập mặn bị thu hẹp, từng bãi biển ngập rác sau mùa du lịch. Vì thế, phát triển xanh với Việt Nam là nhu cầu tự thân.

Bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là lời nhắc nhở về con đường phát triển của Việt Nam trong kỷ nguyên mới: muốn đi xa, phải đi cùng thiên nhiên; muốn giàu mạnh, phải giữ được môi trường sống. Nguồn: baochinhphu.vn
Điều đáng chú ý là bài viết không nhìn chuyển đổi xanh như một tiến trình thuần túy kỹ thuật, mà đặt nó trong quan hệ với công bằng và nhân văn. Chuyển đổi xanh chỉ có thể thành công khi đó là một quá trình bao trùm, không đẩy người nghèo, người lao động trong các ngành phát thải cao, cộng đồng ven biển, phụ nữ, trẻ em và các nhóm dễ tổn thương ra bên lề. Đây là một chiều kích văn hóa rất quan trọng. Bởi một xã hội xanh mà thiếu công bằng thì chưa thể là xã hội nhân văn. Một nền kinh tế ít phát thải nhưng để lại phía sau những cộng đồng yếu thế thì chưa thể là phát triển bền vững. Một cuộc chuyển đổi chỉ thành công trên giấy tờ, nhưng không tạo sinh kế mới, không hỗ trợ đào tạo lại, không bảo đảm an sinh, thì sẽ khó đi vào đời sống.
Đặc biệt, bài viết nhấn mạnh vai trò của khoa học, dữ liệu, công nghệ số và sự tham gia của xã hội trong quản trị môi trường. Đây là điểm rất hiện đại trong tư duy văn hóa. Bởi văn hóa sinh thái hôm nay không thể chỉ dựa vào thiện chí tự phát. Nó cần được nâng đỡ bằng dữ liệu quốc gia về phát thải, chất lượng nước, không khí, rác thải, đa dạng sinh học, tài nguyên biển, sạt lở, xâm nhập mặn, rủi ro khí hậu; cần công nghệ vệ tinh, trí tuệ nhân tạo, cảm biến môi trường, bản đồ số, mô hình dự báo thiên tai và nền tảng phản ánh của người dân.
Nhưng công nghệ chỉ thực sự có ý nghĩa khi được đặt trong một nền quản trị minh bạch: người dân có quyền được biết về chất lượng môi trường nơi mình sống, doanh nghiệp có nghĩa vụ minh bạch tác động môi trường, cơ quan nhà nước phải ra quyết định dựa trên bằng chứng và chịu trách nhiệm trước nhân dân.
Ở tầng sâu nhất, đó là văn hóa trách nhiệm. Trách nhiệm của Nhà nước trong kiến tạo thể chế và bảo đảm thực thi. Trách nhiệm của doanh nghiệp trong đổi mới xanh và tuân thủ môi trường. Trách nhiệm của địa phương trong tích hợp mục tiêu xanh vào quy hoạch và đầu tư công. Trách nhiệm của nhà trường trong giáo dục lối sống xanh. Trách nhiệm của báo chí, văn nghệ sĩ, người có ảnh hưởng trong lan tỏa thẩm mỹ sinh thái và hành vi tiêu dùng có trách nhiệm. Trách nhiệm của mỗi gia đình trong hình thành nếp sống tiết kiệm, ngăn nắp, sạch đẹp. Và trách nhiệm của mỗi người dân trong những việc nhỏ nhưng có ý nghĩa lớn: trồng và chăm một cây xanh, giảm sản phẩm nhựa dùng một lần, tiết kiệm năng lượng, phân loại rác, bảo vệ nguồn nước, giữ sạch bãi biển, lan tỏa một thói quen sống xanh.
Thông điệp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm vì thế có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi một bài viết nhân Ngày Môi trường thế giới (5/6) và Ngày Đại dương thế giới (8/6). Đó là lời nhắc nhở về con đường phát triển của Việt Nam trong kỷ nguyên mới: muốn đi xa, phải đi cùng thiên nhiên; muốn giàu mạnh, phải giữ được môi trường sống; muốn hiện đại, phải văn minh trong ứng xử với tài nguyên; muốn hội nhập, phải có trách nhiệm với những vấn đề chung của nhân loại; muốn hạnh phúc, phải bảo đảm cho mỗi người dân được sống an toàn, khỏe mạnh, nhân văn trong một đất nước xanh.











