Trong phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, AI đang trở thành công nghệ cốt lõi làm thay đổi phương thức sáng tạo, sản xuất và phân phối các sản phẩm, góp phần bảo tồn di sản, quảng bá bản sắc dân tộc, nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộng thị trường quốc tế.
Ngày 24.7 tại Hà Nội, Hiệp hội Phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam đã tổ chức Hội nghị sơ kết hoạt động 6 tháng đầu năm, xác định phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026.
Danh hiệu 'Thành phố sáng tạo' của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) cùng những cơ chế đặc thù từ Luật Thủ đô năm 2026 đang mở ra cơ hội để Hà Nội bứt phá trong phát triển công nghiệp văn hóa.
Khoảng trống thứ ba mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ ra không nằm ở chỗ Việt Nam thiếu văn hóa hay thiếu người sáng tạo, mà nằm ở chỗ chúng ta chưa chuyển hóa được nguồn tài nguyên văn hóa thành các sản phẩm văn hóa có giá trị gia tăng cao, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế. Việt Nam có lịch sử hàng nghìn năm, có kho tàng di sản phong phú, có nền ẩm thực đặc sắc, có nghệ thuật truyền thống, có hệ thống làng nghề, có thiên nhiên đa dạng và có hàng triệu người trẻ sáng tạo. Tuy nhiên, phần lớn những giá trị đó vẫn đang tồn tại dưới dạng tài nguyên, trong khi số lượng sản phẩm văn hóa đủ sức tạo ảnh hưởng khu vực và thế giới còn rất hạn chế.
Công nghiệp văn hóa đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, nhưng ở Việt Nam hiện nay, những câu hỏi như: Công nghiệp văn hóa đóng góp bao nhiêu % GDP; thu hút bao nhiêu doanh nghiệp, lao động; lĩnh vực nào đang đem lại lợi ích kinh tế cao; giá trị xuất, nhập khẩu thế nào?... đều chưa có câu trả lời chính xác...
Những năm gần đây, ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đã có bước phát triển đáng ghi nhận cả về quy mô thị trường lẫn giá trị kinh tế. Nhiều concert âm nhạc, festival sáng tạo, chương trình nghệ thuật, điện ảnh, truyền hình thực tế và các sản phẩm nội dung số đã thu hút đông đảo công chúng, mang lại nguồn thu lớn, đồng thời góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam ra thế giới.
Chiến lược phát triển văn hóa đối ngoại Việt Nam đến 2030, tầm nhìn 2045, nâng cao vị thế, thúc đẩy hợp tác quốc tế và quảng bá giá trị văn hóa Việt Nam toàn cầu.
Chiến lược phát triển văn hóa đối ngoại Việt Nam đến 2030, tầm nhìn 2045, nâng cao vị thế, thúc đẩy hợp tác quốc tế và quảng bá giá trị văn hóa Việt Nam toàn cầu.
Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 1306/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Chiến lược).
Mới đây, các nhà khoa học của Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Công nghiệp văn hóa Việt Nam (S-DCI) đã đề xuất mô hình 'Ocafe-Time Talks…' như một thử nghiệm về không gian liên kết các ngành công nghiệp văn hóa.
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 277/2026/NĐ-CP về Hạ tầng văn hóa số, đặt nền móng ban đầu cho việc phát triển hạ tầng văn hóa số và quy định nhiều nội dung quan trọng cho phát triển và quản lý Nhà nước về văn hóa.
Sức mạnh của văn hóa có thể đến từ mọi tầng lớp nhân dân, mở ra tiềm năng to lớn về ý tưởng sáng tạo cho ngành công nghiệp văn hóa. Việc đào tạo nguồn nhân lực là vô cùng quan trọng nhằm xây dựng một lực lượng lao động có tư duy hệ thống về công nghiệp văn hóa với các yếu tố văn hóa, sáng tạo, công nghệ, thị trường.
Công nghiệp văn hóa Việt Nam gần đây ghi nhận nhiều tín hiệu khởi sắc ở các lĩnh vực. Tuy nhiên, để trở thành 'động lực tăng trưởng mới, chuyển sức mạnh văn hóa thành năng lực cạnh tranh quốc gia', yêu cầu cấp thiết là hoàn thiện thể chế và hệ sinh thái phát triển công nghiệp văn hóa, như chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.
Công nghiệp văn hóa đang từng bước khẳng định vai trò là động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế. Song phát triển công nghiệp văn hóa cũng đang đứng trước 'bốn khoảng trống' cần sớm tìm ra giải pháp để biến tài nguyên văn hóa thành nguồn lực kinh tế.
Sau nhiều năm được nhìn nhận chủ yếu dưới góc độ bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, công nghiệp văn hóa đang được đặt vào vị trí mới, trở thành động lực tăng trưởng của nền kinh tế.
Công nghiệp văn hóa được tỉnh Lạng Sơn xác định là một trong những động lực tăng trưởng mới, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát huy giá trị văn hóa bản địa và nâng cao sức cạnh tranh của địa phương.
Trong bối cảnh công nghiệp văn hóa được xác định là động lực tăng trưởng mới, việc xây dựng một hệ sinh thái liên kết được xem là điều kiện tiên quyết để biến tài nguyên văn hóa thành nguồn lực kinh tế.
Trọng tâm của kế hoạch là đưa văn hóa thấm sâu vào mọi mặt đời sống, trở thành nguồn lực nội sinh và trụ cột tinh thần cho sự phát triển đất nước.
Sự dịch chuyển mạnh mẽ của âm nhạc, điện ảnh, truyện tranh, game… lên môi trường trực tuyến đang mở rộng không gian cho sản phẩm công nghiệp văn hóa, tạo cơ hội để bản sắc Việt hiện diện rõ nét hơn trên bản đồ sáng tạo số toàn cầu.
Bước vào thế kỷ XXI, khi toàn cầu hóa và cách mạng công nghệ số làm thay đổi sâu sắc cách thức các quốc gia cạnh tranh và khẳng định vị thế, văn hóa ngày càng được nhìn nhận như một nguồn lực chiến lược.
Sáng 26.6 tại Hà Nội, Bộ VHTTDL tổ chức Tọa đàm tham vấn xây dựng 'Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2035, tầm nhìn 2045'. Thứ trưởng Bộ VHTTDL Hoàng Đạo Cương chủ trì Tọa đàm với sự tham gia của các nhà khoa học, chuyên gia, nhà quản lý văn hóa.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) đang chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương triển khai xây dựng dự thảo Bộ chỉ tiêu thống kê về đóng góp của các ngành công nghiệp văn hóa đối với phát triển kinh tế.
Việc xây dựng Bộ chỉ tiêu thống kê về đóng góp của các ngành công nghiệp văn hóa đối với phát triển kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu sáng tạo, hưởng thụ, tiêu dùng văn hóa.
Không chỉ dừng ở bảo tồn di sản hay tổ chức các hoạt động văn hóa, Lào Cai đang đặt mục tiêu đưa công nghiệp văn hóa trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh. Từ du lịch văn hóa, nghệ thuật biểu diễn, điện ảnh, thủ công mỹ nghệ đến chuyển đổi số và kinh tế sáng tạo, địa phương đang từng bước xây dựng lộ trình phát triển bài bản nhằm biến những giá trị văn hóa đặc sắc thành nguồn lực mới cho tăng trưởng.
Từ ngày 01/07, nhiều cơ chế, chính sách đặc thù nhằm thúc đẩy phát triển văn hóa Việt Nam sẽ chính thức được triển khai theo Nghị quyết số 28/2026/QH16 về phát triển văn hóa Việt Nam vừa được Quốc hội thông qua.
Tại Giải thưởng Công nghiệp Văn hóa Việt Nam 'Ngọn Đuốc Vàng' 2026, quảng cáo là một trong 10 lĩnh vực được xét chọn và tôn vinh. Đây không chỉ là sự ghi nhận đối với ngành quảng cáo mà còn khẳng định vai trò của quảng cáo như một cầu nối đưa các giá trị văn hóa Việt Nam đến gần hơn với công chúng trong nước và quốc tế.
Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức 'Ngày Văn hóa Việt Nam' giai đoạn 2026-2030.
Từ du lịch di sản, thư viện số đến tác phẩm nghệ thuật trên bao bì hàng hóa, công nghiệp văn hóa đang hiện diện ngày càng rõ trong đời sống kinh tế. Nhưng để biến tài nguyên văn hóa thành giá trị thực sự, Việt Nam vẫn cần một hệ sinh thái đủ mạnh, nơi sáng tạo được nuôi dưỡng, kết nối và thương mại hóa.
Tại Hội thảo khoa học 'Phát triển công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên số' vừa diễn ra tại Thành phố Hồ Chí Minh, điện ảnh được xác định là một trong những lĩnh vực giàu tiềm năng của công nghiệp văn hóa Việt Nam.
Xác định văn hóa là nguồn lực nội sinh và động lực phát triển, tỉnh Lâm Đồng đang triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025-2035 với trọng tâm bảo tồn di sản, xây dựng con người, phát triển công nghiệp văn hóa và chuyển đổi số; góp phần tạo động lực mới cho tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững.
Trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi sâu sắc mọi mặt của đời sống kinh tế-xã hội, công nghiệp văn hóa ngày càng được xác định là một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng, góp phần phát huy sức mạnh mềm quốc gia, xây dựng bản sắc văn hóa và nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.
Xu hướng chuyển đổi số đang làm thay đổi căn bản phương thức sáng tạo, sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm văn hóa. Nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu văn hóa cho rằng, đã đến lúc cần có giải pháp xây dựng hạ tầng văn hóa số, số hóa di sản, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn,... nhằm tạo động lực phát triển cho công nghiệp văn hóa nước nhà trong kỷ nguyên vươn mình dân tộc.
Trong nhiều năm qua, công nghiệp văn hóa đã dần khẳng định vai trò là một động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế. Tuy nhiên, khác với nhiều ngành kinh tế truyền thống, công nghiệp văn hóa có phạm vi rộng, tính liên ngành cao và nhiều sản phẩm mang giá trị vô hình. Vì vậy, việc đo lường chính xác giá trị mà lĩnh vực này tạo ra, đặc biệt tại Hà Nội có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Trong đó cần lưu ý việc phát huy sức mạnh dữ liệu tổng hợp và vượt qua tình trạng phân mảnh dữ liệu.
Ngày 2-6, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Phó Chủ tịch UBND thành phố Lê Trường Sơn ký ban hành Kế hoạch số 53/KH-UBND về việc triển khai Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trên địa bàn thành phố Đồng Nai.
Được xác định là động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế và là kênh lan tỏa sức mạnh mềm quốc gia, các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đã có bước phát triển tích cực cả về quy mô thị trường và mức độ đóng góp.
Giai đoạn hiện nay, công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo ngày càng được nhận diện là một động lực quan trọng của phát triển bền vững, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển con người, quảng bá hình ảnh quốc gia và nâng cao vị thế Việt Nam trên phạm vi quốc tế.
Để công nghiệp văn hóa Việt Nam phát triển bền vững, bên cạnh các chính sách đột phá từ Nghị quyết 80 và Nghị quyết 28, cần truyền thông, xây dựng văn hóa tôn trọng bản quyền, hài hòa lợi ích giữa nhà sáng tạo, chủ thể quyền và công chúng, từ đó tạo nền tảng lan tỏa các giá trị văn hóa Việt Nam ra thế giới.
Ngày 24/4/2026, Quốc hội khóa XVI thông qua Nghị quyết số 28/2026/QH16 về phát triển văn hóa Việt Nam, tạo dấu mốc lập pháp quan trọng trong việc khơi thông nguồn lực, đưa văn hóa trở thành động lực phát triển bền vững và sức mạnh mềm quốc gia. Đối với tỉnh Sơn La, Nghị quyết có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, mở ra cơ hội khai thác hiệu quả giá trị văn hóa đậm đà bản sắc của đồng bào các dân tộc, thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa gắn với du lịch, dịch vụ và nâng cao đời sống nhân dân.
Từ một lĩnh vực từng chủ yếu được nhìn dưới góc độ giải trí và quản lý nội dung, game đang dần có vị trí ngày càng quan trọng chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam.
Sáng 8/5, tại Hà Nội, Cục Bản quyền tác giả (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) tổ chức tọa đàm 'Xây dựng thương hiệu quốc gia các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam'. Tọa đàm có sự tham gia dự của đại diện các bộ, ngành, hiệp hội, doanh nghiệp và chuyên gia trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa, sáng tạo.
Khi công nghiệp văn hóa được xác định là một trong những trụ cột quan trọng trong phát triển kinh tế sáng tạo, yêu cầu xây dựng thương hiệu quốc gia cho các ngành văn hóa Việt Nam là điều cần thiết. Một chiến lược xây dựng thương hiệu bài bản không chỉ giúp nâng tầm giá trị sản phẩm văn hóa Việt mà còn tạo sức lan tỏa mạnh mẽ cho bản sắc Việt Nam trên trường quốc tế.
UBND TP Đà Nẵng vừa ban hành Kế hoạch phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đến năm 2030, với mục tiêu đưa lĩnh vực này trở thành một trong những động lực tăng trưởng kinh tế mới của thành phố.
UBND TP. Đà Nẵng vừa ban hành kế hoạch phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đến năm 2030, đặt mục tiêu đưa lĩnh vực này trở thành động lực tăng trưởng kinh tế mới cho Đà Nẵng.
UBND thành phố Đà Nẵng vừa ban hành Kế hoạch phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đến năm 2030, đặt mục tiêu đưa lĩnh vực này trở thành động lực tăng trưởng kinh tế mới cho Đà Nẵng.
Văn hóa hiện nay được định vị là trụ cột phát triển, là 'sức mạnh mềm' và nguồn lực nội sinh quan trọng trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc để biến di sản thành tài sản, biến bản sắc thành động lực kinh tế bền vững.
Không còn là lĩnh vực 'phụ trợ', công nghiệp văn hóa Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển mình khi công nghệ trở thành lực đẩy trung tâm. Từ một thị trường nhiều bất cập đến những nền tảng số xuyên biên giới, hệ sinh thái sáng tạo mới đang dần hình thành, mở ra cơ hội tăng trưởng cả về kinh tế lẫn sức mạnh mềm quốc gia.
Trong bối cảnh công nghiệp văn hóa đang trở thành trụ cột tăng trưởng mới, TP. Hồ Chí Minh đang hoàn thiện cơ chế, hạ tầng và nguồn lực; đồng thời định hướng xây dựng phim trường quy mô lớn và bảo tàng âm nhạc ứng dụng AI, công nghệ số...
Với vai trò là trung tâm kinh tế, văn hóa và truyền thông lớn nhất cả nước, TPHCM có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển công nghiệp văn hóa gắn với kinh tế sáng tạo, qua đó hình thành một động lực phát triển mới cho thành phố trong giai đoạn tới.
Tỉnh Lào Cai phấn đấu đến năm 2030 đưa công nghiệp văn hóa trở thành ngành kinh tế quan trọng gắn kết chặt chẽ với phát triển du lịch, dịch vụ, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc.
Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030, các ngành công nghiệp văn hóa đạt tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 10%/năm, đóng góp khoảng 7% GDP và thu hút lực lượng lao động tăng trưởng 10%/năm, chiếm 6% tổng lao động toàn nền kinh tế.
Trong xu thế toàn cầu, công nghiệp văn hóa ngày càng khẳng định vai trò là động lực tăng trưởng mới của nhiều quốc gia. Tại Hàn Quốc, lĩnh vực này đóng góp hơn 5% GDP và tạo nên làn sóng Hallyu lan tỏa toàn cầu. Ở Anh, các ngành công nghiệp sáng tạo mang lại gần 115 tỷ bảng Anh mỗi năm và tạo hơn 2 triệu việc làm.
Trong một thời gian dài, thị trường giải trí Việt Nam bị lép vế ngay trên sân nhà. Từ những bộ phim chiếu rạp, đến các sản phẩm về âm nhạc… khán giả Việt dường như luôn tìm thấy sức hấp dẫn ở sản phẩm nhập khẩu. Thế nhưng, chỉ trong vài năm trở lại đây, cục diện đã đảo chiều.
Việt Nam vốn sở hữu một kho tàng văn hóa đồ sộ nhưng để kho tàng này mang lại giá trị kinh tế thì vẫn còn khiêm tốn. Đã đến lúc 'bản sắc Việt' cần được chuyể...
Năm 2025 đánh dấu một cột mốc quan trọng đối với lĩnh vực công nghiệp văn hóa Việt Nam khi Hiệp hội Phát triển Công nghiệp Văn hóa Việt Nam (VCIDA) chính thức được thành lập và đi vào hoạt động. Sự ra đời của Hiệp hội không chỉ đáp ứng yêu cầu thực tiễn mà còn mở ra một không gian kết nối, hỗ trợ và thúc đẩy hệ sinh thái sáng tạo văn hóa Việt Nam phát triển bền vững.
Bước sang năm 2026, Hiệp hội Phát triển Công nghiệp Văn hóa Việt Nam xác định rõ phương hướng và nhiệm vụ trọng tâm nhằm từng bước xây dựng hệ sinh thái công nghiệp văn hóa chuyên nghiệp, hiện đại, thích ứng với xu thế quốc tế, đóng góp thiết thực cho phát triển kinh tế sáng tạo và bảo tồn, lan tỏa bản sắc văn hóa dân tộc.
Giai đoạn 2021 - 2025 ghi dấu bước chuyển mình của công nghiệp văn hóa, với mức tăng trưởng ấn tượng trong các lĩnh vực điện ảnh, âm nhạc, du lịch văn hóa, trò chơi điện tử… Không chỉ tạo ra doanh thu tỷ đô mà lĩnh vực này còn khẳng định 'sức mạnh mềm' quốc gia trên trường quốc tế.
Từ lâu, văn hóa được xem là nguồn lực quan trọng thúc đẩy phát triển bền vững của đất nước. Đối với Hà Nội - Thủ đô ngàn năm văn hiến, việc phát triển công nghiệp văn hóa không chỉ là yêu cầu tất yếu mà còn là con đường chiến lược để xây dựng một đô thị sáng tạo. Sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, giữa bản sắc và hội nhập, giữa chiều sâu lịch sử và nhịp điệu sáng tạo đương đại đang mở ra cho Hà Nội một tương lai mới, trở thành trung tâm sáng tạo kết nối toàn cầu.
Một trong những khó khăn lớn nhất khi bàn về công nghiệp văn hóa ở Việt Nam là sự lẫn lộn khái niệm. Không ít người hiểu công nghiệp văn hóa đơn giản là 'làm văn hóa để kiếm tiền', hoặc ngược lại, lo ngại rằng đưa yếu tố công nghiệp vào văn hóa sẽ làm nghèo nàn giá trị tinh thần, biến nghệ thuật thành hàng hóa thuần túy.
Công nghiệp văn hóa Việt Nam trở thành ngành kinh tế dịch vụ quan trọng, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, bảo tồn di sản và nâng cao thương hiệu quốc gia. Với sự chuyển đổi mạnh mẽ, công nghiệp văn hóa đã đóng góp tích cực vào thành tựu chung đầy rực rỡ của đất nước ta trong nhiệm kỳ vừa qua.
Bức tranh công nghiệp văn hóa nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng là nơi ta phải nhìn sâu hơn, bình tĩnh hơn và cũng tự hào hơn. Nếu thể chế mở đường, thị trường thức giấc, thì hệ sinh thái sáng tạo chính là nền tảng được dựng lên, là những 'bệ đỡ' hữu hình và vô hình, để công nghiệp văn hóa không chỉ bùng nổ theo những khoảnh khắc rực rỡ, mà có thể phát triển bền vững như một ngành kinh tế đúng nghĩa, góp phần tạo dựng sức mạnh mềm quốc gia.