Văn hóa từ sứ mệnh 'soi đường' đến trụ cột phát triển

Gần 80 năm trước, tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ Nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: "Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi". Đến nay, tư tưởng ấy vẫn giữ nguyên giá trị, được kế thừa và phát triển trước những yêu cầu của thời đại. Như lời Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, trong bối cảnh mới, “văn hóa không chỉ soi đường cho mỗi con người, mà còn định hướng con đường phát triển của cả dân tộc”.

Xác lập vị thế đặc biệt của văn hóa

Ngày 24/11/1946, Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất diễn ra tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Đất nước vừa giành được độc lập, phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, nhưng ngay trong hoàn cảnh ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt văn hóa vào vị thế đặc biệt trong công cuộc kiến thiết quốc gia.

Người mong muốn nền văn hóa mới của nước nhà lấy hạnh phúc của nhân dân, của dân tộc làm cơ sở; biết tiếp thu những giá trị tốt đẹp của văn hóa nhân loại, đồng thời xây dựng một nền văn hóa Việt Nam có khả năng sửa đổi những thói hư, tật xấu, bồi đắp lý tưởng tự chủ, độc lập. Người khẳng định: “Số phận dân tộc là ở trong tay dân ta. Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”.

Sau 80 năm, tư tưởng "Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi" của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nguyên giá trị. Ảnh: Trần Huấn

Sau 80 năm, tư tưởng "Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi" của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nguyên giá trị. Ảnh: Trần Huấn

Kế thừa tư tưởng ấy, nhận thức về vai trò của văn hóa từng bước được mở rộng với quá trình phát triển quốc gia. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh “phát triển nguồn lực con người, phát triển văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh, động lực to lớn cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước”.

Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam cụ thể hóa tầm nhìn ấy. Trước những biến chuyển sâu sắc của thế giới, sự tác động mạnh mẽ của khoa học, công nghệ và những thay đổi trong hệ giá trị, chuẩn mực xã hội, Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu: “Văn hóa phải đi trước soi đường, thấm vào từng quyết sách phát triển”. Đồng thời, xây dựng và phát triển văn hóa phải thực sự trở thành nền tảng vững chắc, sức mạnh nội sinh của dân tộc và hệ điều tiết cho phát triển nhanh, bền vững đất nước.

Chuyển hóa nguồn lực, gia tăng sức mạnh mềm

Thế giới đang bước vào một trật tự mới, trong đó cạnh tranh không chỉ diễn ra về kinh tế, công nghệ hay nguồn lực vật chất, mà còn cả cạnh tranh giữa các nền văn hóa, trong đó có cạnh tranh giá trị và ảnh hưởng của công nghiệp văn hóa. Vì vậy, cùng với nhiệm vụ xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, bảo tồn di sản, phát triển văn học nghệ thuật, cần “phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, xây dựng những tổ hợp sáng tạo và các mô hình kinh doanh mới dựa trên công nghệ cao”.

Công nghiệp văn hóa là con đường quan trọng để khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên văn hóa dân tộc trong thời đại số. Ảnh: Th. Nguyên

Công nghiệp văn hóa là con đường quan trọng để khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên văn hóa dân tộc trong thời đại số. Ảnh: Th. Nguyên

Chỉ trong 2 năm 2025 - 2026, cùng với Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 28/2026/QH16 về phát triển văn hóa Việt Nam và Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2486/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Các Nghị quyết, Chiến lược đã thể hiện tư duy chiến lược, tầm nhìn dài hạn và quan điểm nhất quán của Đảng về vị trí, vai trò của văn hóa nói chung và công nghiệp văn hóa nói riêng đối với sự phát triển đất nước trong thời kỳ mới, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và cạnh tranh sức mạnh mềm ngày càng quyết liệt giữa các quốc gia.

Nhằm tạo khung khổ pháp lý đủ sức kiến tạo và bảo vệ, thúc đẩy công nghiệp văn hóa phát triển, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, nhằm khơi thông nguồn lực, giải phóng sức sáng tạo, gia tăng hàm lượng văn hóa trong các sản phẩm, dịch vụ, bảo vệ thị trường nội địa và tạo đòn bẩy đưa công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng bứt phá của đất nước. Dự án Luật dự kiến sẽ được trình Quốc hội tại Kỳ họp tháng 10 tới.

Các văn bản Nghị quyết, Chiến lược cũng đặt ra yêu cầu phát triển văn hóa toàn diện, tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; và đặc biệt nhấn mạnh nhiệm vụ phát triển công nghiệp văn hóa trở thành ngành kinh tế quan trọng, có khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, quảng bá hình ảnh quốc gia và nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Theo Phó Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả Lê Minh Tuấn, đây là bước chuyển quan trọng trong nhận thức lý luận và thực tiễn về văn hóa, từ tư duy “bảo tồn, phát huy và hưởng thụ văn hóa” sang “kiến tạo giá trị và phát triển kinh tế từ văn hóa”.

PGS. TS. Huỳnh Văn Tới, Trường ĐH Văn hóa TP. Hồ Chí Minh cho rằng, đối với Việt Nam, phát triển công nghiệp văn hóa không chỉ là yêu cầu của hội nhập quốc tế mà còn là con đường quan trọng để khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên văn hóa dân tộc trong thời đại số.

Đất nước ta sở hữu một kho tàng văn hóa phong phú. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải tìm được phương thức để tài nguyên ấy được đánh thức, tái tạo và đưa vào đời sống đương đại. Một di sản chỉ có thể tiếp tục tồn tại lâu dài khi được cộng đồng hôm nay hiểu, sử dụng và sáng tạo trên nền tảng những giá trị cốt lõi của nó. Quá trình đó đòi hỏi một hệ sinh thái từ nghiên cứu, bảo tồn, sáng tạo đến sản xuất, công nghệ, truyền thông, phân phối và thị trường. Đây chính là khoảng không gian mà công nghiệp văn hóa cần được hình thành và phát triển.

Khi giá trị văn hóa được kết nối với công nghệ và thị trường, biên độ lan tỏa của nó có thể mở rộng rất nhanh. Một bộ phim có thể đưa câu chuyện Việt Nam đến hàng triệu khán giả; âm nhạc là cầu nối đưa chất liệu dân gian bước vào không gian số; trò chơi điện tử truyền tải giá trị lịch sử, truyền thuyết và hình tượng văn hóa thành trải nghiệm tương tác; thiết kế và thời trang chuyển hóa hoa văn, chất liệu, kỹ thuật thủ công thành những sản phẩm mới…

Từ một giá trị văn hóa ban đầu có thể hình thành cả một chuỗi giá trị sáng tạo gắn với đời sống hiện đại, thu hút khán giả. Ở đó, văn hóa vừa tạo ra giá trị kinh tế, vừa đáp ứng nhu cầu hưởng thụ, nuôi dưỡng đời sống tinh thần, vừa góp phần củng cố bản sắc và năng lực tự chủ văn hóa.

Bảo tồn bản sắc bằng tư duy sáng tạo

Tại Phiên họp thứ hai Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, bảo tồn văn hóa trong kỷ nguyên số không chỉ là lưu giữ di sản, mà phải làm cho di sản tiếp tục sống trong đời sống đương đại; không chỉ số hóa để lưu trữ, mà phải số hóa để giáo dục, sáng tạo, lan tỏa và trở thành nguồn lực cho phát triển, cho công nghiệp văn hóa và cho trí tuệ nhân tạo của Việt Nam.

"Ba chuyển dịch lớn" được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước quán triệt, nhằm phù hợp với nền văn hóa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới. Trong đó, xác lập văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là trụ cột của phát triển, động lực tăng trưởng mới; phát triển văn hóa trong cả không gian thực và không gian số; kết hợp chặt chẽ giữa bảo tồn và sáng tạo, tạo ra tri thức mới, tài sản trí tuệ, sản phẩm, thị trường và sức mạnh mềm quốc gia…

80 năm trước, nhiệm vụ “soi đường” là mệnh lệnh lịch sử khẳng định vị thế độc lập của dân tộc bằng văn hóa. Hôm nay, giữa dòng chảy số và hội nhập sâu rộng, tinh thần ấy vẫn tiếp tục dẫn lối, nhưng với tầm vóc mới: văn hóa thành động lực phát triển quốc gia. Công nghiệp văn hóa, vì thế, là phương thức hiện đại nhất để tiếp nối sứ mệnh "soi đường", đưa các giá trị được vun bồi qua hàng nghìn năm lịch sử trở thành tri thức, sản phẩm mới, tiếp tục giữ vững và khẳng định bản sắc Việt Nam trên bản đồ thế giới.

Thảo Nguyên

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/van-hoa-tu-su-menh-soi-duong-den-tru-cot-phat-trien-10429045.html