Từ mùa Thu độc lập đến khát vọng quốc gia biển mạnh

Từ mùa Thu năm 1945, khi dân tộc Việt Nam giành lại quyền làm chủ vận mệnh của mình, đến khát vọng xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh hôm nay là một hành trình liên tục của ý chí độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường. Trong hành trình ấy, bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ luôn song hành với kiến thiết đất nước và biển, đảo ngày càng được nhận thức đầy đủ hơn không chỉ là một phần thiêng liêng của Tổ quốc, mà còn là không gian sinh tồn, không gian phát triển và nguồn lực chiến lược của quốc gia.

Từ quyền làm chủ đến trách nhiệm gìn giữ non sông

Trong dòng chảy của lịch sử dân tộc, 81 năm trước, dân tộc ta đã làm nên một mốc son chói lọi. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại của cách mạng, đưa dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cách mạng Tháng Tám đã lật đổ nền quân chủ mấy mươi thế kỷ, đã đánh tan xiềng xích thực dân gần 100 năm, đã đưa chính quyền lại cho Nhân dân, đã xây nền tảng cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, độc lập, tự do, hạnh phúc. Đó là một cuộc thay đổi cực kỳ to lớn trong lịch sử của nước ta”.

Nhưng độc lập không phải là điểm kết thúc của một cuộc cách mạng. Độc lập mở ra một kỷ nguyên mới, đồng thời đặt lên vai dân tộc những nhiệm vụ mới: bảo vệ thành quả cách mạng, giữ vững chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và kiến thiết đất nước. “Sau tám mươi năm tranh đấu, dân tộc Việt Nam đã thoát khỏi vòng áp bức của chính sách thực dân, đồng thời đã gạt bỏ chế độ vua quan. Nước nhà đã bước sang một quãng đường mới. Nhiệm vụ của dân tộc ta trong giai đoạn này là bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ”, lời nói đầu của bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam mới - Hiến pháp năm 1946 khẳng định.

Một chân lý xuyên suốt được xác lập trong chiều dài của lịch sử Việt Nam: dựng nước luôn đi đôi với giữ nước; xây dựng đất nước phải gắn liền với bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Đó không chỉ là yêu cầu của một thời kỳ lịch sử, mà là quy luật tồn tại và phát triển của quốc gia.

Chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước là vấn đề hệ trọng, thiêng liêng và bất khả xâm phạm. Lãnh thổ của nước ta bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời. “Mỗi người Việt Nam, dù sống ở đâu, ngay cả ở trên miền núi, hình như bao giờ cũng nghe được tiếng rì rào của biển cả ngày đêm không mỏi vỗ sóng vào bờ. Đấy là vì đất nước ta là một bán đảo có chiều dài lớn gấp bốn lần chiều rộng nhất, do đó mà không có nơi nào ở nước ta lại xa biển hơn 500km theo đường chim bay…” (Thiên nhiên Việt Nam, Lê Bá Thảo).

Với tầm nhìn chiến lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm nhận thức sâu sắc vị trí đặc biệt của biển đối với sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Trong tư tưởng của Người, biển không nằm ngoài không gian Tổ quốc; biển vừa là “cửa” của quốc gia cần được bảo vệ, vừa là nguồn lực cần được khai thác để phục vụ xây dựng đất nước.

Ngày 10/4/1956, khi nói chuyện tại Hội nghị cán bộ cải cách miền biển, Hồ Chủ tịch đã nói: “Đồng bằng là nhà, mà biển là cửa. Giữ nhà mà không giữ cửa có được không? Kẻ gian tế nó sẽ vào chỗ nào trước? Nó vào ở cửa trước. Vì vậy ta phải giáo dục cho đồng bào biết bảo vệ bờ biển. […] Nếu mình không lo bảo vệ miền biển, thì đánh cá, làm muối cũng không yên. Cho nên một nhiệm vụ quan trọng của đồng bào miền biển là phải bảo vệ bờ biển. Đồng bào miền biển là người canh cửa cho Tổ quốc”.

Một hình ảnh hết sức giản dị nhưng hàm chứa tư duy chiến lược sâu sắc. Biển là “cửa” của Tổ quốc, giữ biển trước hết là giữ môi trường hòa bình để Nhân dân làm ăn, sinh sống; giữ biển cũng là bảo vệ không gian phát triển của đất nước. Vì vậy, bảo vệ chủ quyền biển, đảo không thể tách rời nhiệm vụ phát triển kinh tế, nâng cao đời sống Nhân dân và xây dựng tiềm lực quốc gia. Nói chuyện với các đại biểu nhân dân thành phố Hải Phòng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Rừng vàng, biển bạc là của ta, do Nhân dân ta làm chủ”. Người còn nhấn mạnh: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng. Ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó”.

Từ khai thác đến làm chủ không gian biển

Từ nhận thức về vị trí, vai trò của biển, Đảng, Nhà nước ta đã từng bước hoàn thiện cơ sở pháp lý, chính sách và chiến lược quản lý, khai thác, bảo vệ biển, đảo. Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã tạo một bước chuyển quan trọng trong nhận thức và hành động.

Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy những yêu cầu mới đang đặt ra. Nhận thức về xây dựng quốc gia biển mạnh ở một số nơi chưa đầy đủ; quản trị biển chưa theo kịp yêu cầu phát triển; thể chế, chính sách còn thiếu đồng bộ; kinh tế biển chưa phát triển tương xứng với tiềm năng; khoa học, công nghệ, nguồn nhân lực biển còn hạn chế; môi trường, hệ sinh thái biển chịu nhiều sức ép; việc quản lý, khai thác và làm chủ không gian biển chưa đáp ứng yêu cầu…

Chính từ thực tiễn đó, yêu cầu về một bước phát triển mới trong tư duy chiến lược về biển đã được đặt ra. Ngày 28/7/2026, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV ban hành Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Nghị quyết 20 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện tư duy phát triển và tầm nhìn chiến lược của Đảng ta đối với biển và đại dương trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.

Điểm mới có ý nghĩa chiến lược ở đây không nằm ở việc bổ sung thêm một số mục tiêu phát triển kinh tế biển, mà sâu hơn là sự thay đổi cách nhìn về biển trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia. Từ chỗ chủ yếu quan tâm khai thác các nguồn lợi của biển và bảo đảm quốc phòng, an ninh trên biển, tư duy mới đặt biển trong một chỉnh thể rộng lớn hơn: biển là không gian sinh tồn, không gian phát triển và là nguồn lực chiến lược để đất nước vươn lên.

Bởi vậy, Nghị quyết đặt ra yêu cầu chuyển mạnh tư duy “từ khai thác biển sang quản trị biển hiện đại; từ phát triển kinh tế ven biển sang phát triển quốc gia biển mạnh; từ quản lý theo ngành sang quản trị tổng hợp, thống nhất không gian biển quốc gia”.

Đây là sự phát triển của tư duy “làm chủ vùng biển” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh từng đặt ra trong những năm đầu của nước Việt Nam mới. Nếu “làm chủ” trong tư tưởng của Người trước hết là làm chủ về chủ quyền, làm chủ nguồn lực và làm chủ vận mệnh, thì trong điều kiện hiện nay, làm chủ biển đòi hỏi năng lực quản trị hiện đại, năng lực khoa học - công nghệ, năng lực tổ chức không gian phát triển và khả năng khai thác hợp lý, bền vững các nguồn lực biển.

Nghị quyết xác định mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, giàu từ biển, phát triển nhanh nhưng bền vững trên cơ sở quản trị biển hiện đại, khai thác hợp lý tài nguyên, bảo vệ hệ sinh thái biển, thích ứng với biến đổi khí hậu, đồng thời bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh, chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên biển.

Theo định hướng triển khai Nghị quyết, việc hoàn thiện thể chế đang được đặt ở vị trí trọng tâm, trong đó có yêu cầu chuyển từ mô hình khai thác biển theo từng ngành riêng lẻ sang quản trị tổng hợp không gian biển, thúc đẩy liên kết giữa năng lượng, logistics, cảng biển, nuôi biển, du lịch và công nghiệp biển, qua đó hình thành những chuỗi giá trị mới có sức cạnh tranh quốc tế. Đó chính là cách biến tư duy chiến lược thành năng lực phát triển cụ thể; biến tiềm năng biển thành nguồn lực; biến nguồn lực thành sức mạnh; và từ sức mạnh ấy củng cố vững chắc hơn chủ quyền quốc gia.

***

Mùa Thu năm 1945, dân tộc Việt Nam giành lại quyền làm chủ đất nước, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do. Từ mùa Thu lịch sử ấy đến hôm nay, hành trình dựng nước và giữ nước chưa bao giờ tách rời nhau. Mỗi bước phát triển của đất nước đều phải được đặt trong yêu cầu bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; ngược lại, mỗi thành quả của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc phải trở thành nền tảng cho phát triển.

Trong hành trình ấy, biển ngày càng hiện rõ vị trí đặc biệt. Nghị quyết 20-NQ/TW vì vậy không chỉ mở ra một chương mới cho phát triển kinh tế biển. Ý nghĩa sâu xa hơn là Nghị quyết đã nâng vấn đề biển lên một tầm nhìn mới trong chiến lược phát triển đất nước: từ bảo vệ biển đến làm chủ biển; từ khai thác biển đến quản trị biển; từ phát triển kinh tế ven biển đến xây dựng quốc gia biển mạnh.

Nếu mùa Thu năm xưa mở ra kỷ nguyên độc lập cho dân tộc, thì khát vọng quốc gia biển mạnh hôm nay là sự tiếp nối khát vọng ấy trong một tầm vóc mới: một Việt Nam không chỉ làm chủ đất nước mình, mà còn đủ sức làm chủ, quản trị và phát triển bền vững các không gian (biển, ngầm, vùng trời…); biến tiềm năng thành sức mạnh, biến sức mạnh thành động lực phát triển, để góp phần làm nên một Việt Nam hùng cường, phồn vinh, vững bước trong kỷ nguyên mới.

Đ.Anh - H.Giang

Nguồn Pháp Luật VN: https://baophapluat.vn/tu-mua-thu-doc-lap-den-khat-vong-quoc-gia-bien-manh.html