Thục Phán - An Dương Vương: Từ truyền thuyết đến hiện thực

Trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, số truyện cổ tích lịch sử, tức là truyền thuyết về lịch sử chiếm một tỉ lệ lớn. Tại Cao Bằng còn lưu truyền rộng rãi truyền thuyết 'Cẩu chủa cheng vùa' (Chín chúa tranh vua) liên quan đến thời kỳ Thục Phán - An Dương Vương và Hùng Vương.

Truyền thuyết “Cẩu chủa cheng vùa” là câu chuyện cổ tích rất phổ biến trong đồng bào Tày, Nùng... Nội dung câu chuyện như sau: Khoảng cuối đời Hùng Vương, ở phía nam Trung Quốc có một nước tên là Nam Cương, gồm miền Tây tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) và cả vùng Cao Bằng ngày nay. Nước Nam Cương gồm 10 xứ mường, mường trung tâm vua ở, nơi vua đóng đô gọi là Kinh đô Nam Bình (nay truyền là Cao Bình, xã Hưng Đạo, thành phố Cao Bằng).

Còn chín mường xung quanh do chín chúa cai quản. Chúa Hoàng Tiến Đạt làm chủ châu Thạch Lâm (nay là huyện Hòa An); Chúa Lâm Tuyền Thượng ở châu Hà Quảng (nay là huyện Hà Quảng); Chúa Nông Quang Thạc ở châu Bảo Lạc (nay là các huyện Bảo Lạc, Bảo Lâm); Chúa Lý Kim Đán ở châu Thạch An (nay là huyện Thạch An); Chúa Lương Ngọc Tặng ở châu Phục Hòa (nay thuộc huyện Quảng Hòa); Chúa Hà Thanh Giang ở châu Thượng Lang (nay là huyện Trùng Khánh); Chúa Trương Thiết Vận ở châu Quảng Uyên (nay thuộc huyện Quảng Hòa); Chúa Đàm Việt Dũng ở Thái Ninh (nay thuộc Quảng Tây, Trung Quốc); Chúa Lục Văn Thắng ở Thin Tẳng (nay thuộc Quảng Tây, Trung Quốc).

Theo truyền thuyết thì Thục Chế làm vua nước Nam Cương 60 năm, thọ 95 tuổi, khi Thục Chế mất, con là Thục Phán mới lên 10 tuổi nhưng được thay thế vua cha làm vua. Cả chín chúa mường đều không phục, đem quân về bao vây kinh thành đòi nhường lại ngôi vua. Thục Phán tuy còn nhỏ tuổi nhưng tỏ ra là người thông minh tài giỏi, trí tuệ hơn người. Trước tình thế đó, ông liền phán: Ngôi vua chỉ có một, mà nay có chín chúa biết nhường ai. Thục Phán thách chín chúa cùng nhau đấu võ, ai thắng sẽ được nhường ngôi vua.

Cuộc đấu võ giữa các chúa được tổ chức ngay tại kinh thành Nam Bình, kết quả bất phân thắng bại, nên không có chúa nào xứng đáng được nhường ngôi vua. Sau đó Thục Phán lại bày ra cuộc đua tài; ai giỏi nghề gì làm nghề đó, hẹn 3 ngày 3 đêm kết thúc (báo hiệu bằng đánh trống liên hồi), ai hoàn thành đúng hạn sẽ được làm vua.

Mỗi chúa một việc theo khả năng, sở trường của mình thách nhau, quyết giành ngôi vua: Chúa Nông Quang Thạc, đi lấy trống đồng; Chúa Lý Kim Đán, dùng cung bắn trụi hết lá đa; Chúa Đàm Viết Dũng, làm một nghìn bài thơ; Chúa Hoàng Tiến Đạt, nhổ mạ tại cánh đồng Phiêng Pha (xã Mai Long, huyện Nguyên Bình) đem về cấy ở cánh đồng Tổng Chúp (nay thuộc xã Hưng Đạo, thành phố Cao Bằng); Chúa Lương Ngọc Tặng, đóng thuyền rồng; Chúa Lục Văn Thắng, đẽo đá làm guốc; Chúa Lâm Tuyền Thượng và Chúa Hà Thành Giáng, nung vôi và làm gạch xây thành; Chúa Trương Thiết Vận, lấy lưỡi cày mài thành trăm chiếc kim.

Thục Phán một mặt ký giao kèo để các chúa thi đấu, mặt khác lại chọn chín cung nữ đủ tài sắc, văn võ kiêm toàn lẻn đi theo các chúa, dùng mỹ nhân kế để làm thất bại cuộc đua tài của họ, khi sắp thành công. Kết quả là Thục Phán vẫn giữ ngôi vua. Các chúa đều quy phục.

Cánh đồng Phiêng Pha, xã Mai Long (Nguyên Bình). Ảnh Thế Vĩnh

Cánh đồng Phiêng Pha, xã Mai Long (Nguyên Bình). Ảnh Thế Vĩnh

Hiện nay, tại Cao Bằng vẫn còn các di vật, các địa danh cụ thể gắn liền với cuộc thi tài của các chúa như: cánh đồng Phiêng Pha (xã Mai Long, huyện Nguyên Bình), cánh đồng Tổng Chúp (xã Hưng Đạo, thành phố Cao Bằng). Ngay thành Bản Phủ (Cao Bình, xã Hưng Đạo, thành phố Cao Bằng) là cây đa cổ thụ, tương truyền là chúa Kim Đán dùng cung tên bắn gần trụi hết lá. Ra khỏi vòng thành ngoài, ở gần Đầu Gò còn có một đôi guốc đá khổng lồ chưa kịp đục lỗ xỏ quai, đó là kết quả đua tài của chúa Văn Thắng. Theo quốc lộ khoảng 1 km (hướng lên thị trấn Nước Hai, huyện Hòa An), ở bên phải có một quả đồi gọi là Khau Lừa (tức đồi thuyền), theo truyền thuyết đó là con thuyền của chúa Ngọc Tặng chưa kịp lật; đối diện với Khau Lừa bên kia sông Bằng là thành Na Lữ còn thiếu một cửa do cuộc đua tài của chúa Thành Giáng bị bỏ dở. Chúa Thiết Vận không kịp xâu lỗ kim mà ném mạnh kim bay qua hướng Trà Lĩnh xuyên thủng ngọn núi, đó chính là Phja Píot (nay gọi là núi thủng, tức Mắt Thần núi, thuộc xã Cao Chương, huyện Trùng Khánh) và xuyên qua ngọn núi ở xã Thái Cường, huyện Thạch An, nên gọi là Ngườm Kim (trong chiến sự tháng 2/1979 đã bị quân Trung Quốc phá sập). Còn chúa Đàm Viết Dũng làm thơ, phải bỏ cuộc vì khi gần đến thắng lợi thì nghe tiếng trống của chúa Quang Thạc vang lên; các chúa tưởng chúa Quang Thạc đã giành chiến thắng. Nhưng cả chúa Quang Thạc cũng bị trúng mỹ nhân kế của Thục Phán, nên trống lăn xuống vực kêu ầm lên vang vọng cả núi rừng, nơi trống lăn gọi là Tổng Lằn (trống lăn) ở đèo Cao Bắc (giáp tỉnh Bắc Kạn).

Như vậy là từ thành Bản Phủ, Thục Phán đã tổ chức nhiều cuộc thi và giành thắng lợi trước các chúa. Nay các địa danh, các câu chuyện gắn liền với cuộc thi vẫn còn in sâu đậm trong ký ức nhân dân. Kinh đô Nam Bình của nước Nam Cương cũng còn khá rõ nét, đó là tòa thành tại Kinh đô Nam Bình của nước Nam Cương, được cuốn Lịch sử Việt Nam, do Viện sử học Viện Hàn Lâm khoa học xã hội Việt Nam ghi nhận là: “Hiện tại, còn dấu vết của một tòa thành ở Cao Bằng, dân gian gọi là thành Bản Phủ. Tương truyền đây là thành của Tục Pắn (Thục Phán), người đã giành chiến thắng được tôn làm vua nước Nam Cương sau cuộc đua tài “Cẩu chủa cheng vùa”. Thành này có hai lớp tường thành đất bao bọc gợi ra truyền thống đắp thành Cổ Loa sau khi An Dương Vương rời Cao Bằng xuống đóng đô ở đồng bằng. Vị trí của thành Bản Phủ, Cao Bằng khá phù hợp với vị trí của Tây Âu ở thế kỷ III (trước công nguyên), hoặc vị trí của huyện Tây Vu sau khi bị nhập vào Nam Việt rồi Tây Hán”.

Nước Nam Cương trở nên cường thịnh. Lúc đó nước láng giềng Văn Lang của vua Hùng suy yếu, lại đứng trước họa xâm lăng của nhà Tần, Vua Hùng giao quyền chỉ huy kháng chiến chống Tần cho Thục Phán. Sau khi kháng chiến thắng lợi, Thục Phán được vua Hùng nhường ngôi; Thục Phán đã sáp nhập hai vùng lãnh thổ Âu Việt (tức Tây Âu) và Lạc Việt thành lập nước Âu Lạc (thế kỷ III trước công nguyên), hiệu là An Dương Vương, đóng đô ở Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội). Hiện nay ở đền Hùng còn có di tích ghi lại sự kiện này, đó là “hòn đá thề” ghi dấu tích sau khi được vua Hùng truyền ngôi, Thục Phán - An Dương Vương cảm kích việc nhường ngôi của vua Hùng Duệ Vương công đức lớn như trời đất, bèn cử giá đến núi Nghĩa Lĩnh lập đền đài lấy làm nơi thờ tự của nước, dựng cột đá giữa núi chỉ lên trời mà khấn rằng: “Nguyện có trời cao lồng lộng soi xét không bao giờ sai, nước Nam sẽ trường tồn, miếu thờ Hùng Vương sẽ còn mãi, nếu về sau các vua kế vị mà trái ước bội thề, thì búa giăng, rìu gió sẽ trừng phạt để không phụ lời thề của người đời trước”. Thục Phán - An Dương Vương đã thề: “Noi gương các vua Hùng quyết giữ vững cơ đồ Hùng - Thục”.

"Cột đá thề" tại đền Thượng, núi Nghĩa Lĩnh, Khu di tích lịch sử Đền Hùng (Phú Thọ). Ảnh T.V

"Cột đá thề" tại đền Thượng, núi Nghĩa Lĩnh, Khu di tích lịch sử Đền Hùng (Phú Thọ). Ảnh T.V

Truyền thuyết về Thục Phán - An Dương Vương có tính lan tỏa rộng lớn, và đã đi sâu vào tiềm thức của nhân dân từ đời này sang đời khác. Song truyền thuyết đó không chỉ có tính chất như dã sử của địa phương, mà lịch sử chứa đựng trong truyền thuyết đã trở nên phổ biến trong cả nước, được coi là chung cho cả dân tộc, vì truyền thuyết còn phổ biến ở cả các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Thanh Hóa, Nghệ An và được lưu truyền đến nay, người dân các nơi đó còn cho biết Thục Phán - An Dương Vương có quê hương tại Cao Bằng.

Nhân dân ở các vùng kể truyền thuyết luôn bảo tồn cái cốt lõi sự thực lịch sử, nên những sự thực được chuyển tải trong truyền thuyết sống mãi trong lòng nhân dân. Nhà sử học Ngô Sĩ Liên khi viết sử đặc biệt chú ý đến nguồn tài liệu dân gian. Ông là sử gia đầu tiên hệ thống hóa một số truyền thuyết về thời kỳ Hùng Vương chuyển tiếp sang Thục Phán - An Dương Vương và thận trọng bóc dần cái vỏ truyền thuyết tìm ra cái cốt lõi của sự thật lịch sử, để viết phần đầu của bộ Đại Việt sử ký toàn thư, phần nói về nguồn gốc dân tộc, về sự nghiệp mở nước của tổ tiên. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết trong bài “Nhân ngày giỗ tổ vua Hùng” (Báo Nhân dân số 5494 ra ngày 29/4/1969) đã nói rõ ý nghĩa của truyền thuyết đối với công tác nghiên cứu thời đại Hùng Vương nói riêng và nghiên cứu lịch sử nói chung.

Như vậy có thể thấy rằng, truyền thuyết dân gian luôn chứa đựng một phần sự thực lịch sử, luôn có “chỗ đứng” trong việc nghiên cứu, biên soạn lịch sử và được nhân dân coi là một thứ lịch sử thiêng liêng của mình. Mặc dù là truyền thuyết nhưng gạt bỏ những yếu tố huyền thoại thì truyền thuyết “Cẩu chủa cheng vùa” vẫn chứa đựng những hạt nhân lịch sử của nó. Đó là quá trình phát triển hợp lý, cả thời gian, không gian, vừa có tính liên tục, tính kế thừa. Điều đó góp phần làm sáng tỏ và khẳng định giả thuyết: Thục Phán có nguồn gốc ở Cao Bằng đã có công lớn đối với việc thành lập nước Âu Lạc, đóng góp vào quá trình dựng nước và giữ nước trong giai đoạn đầu tiên của lịch sử dân tộc. Nước Âu Lạc ra đời là một bước phát triển mới trong tiến trình lịch sử Việt Nam.

Hồng Viễn

Nguồn Cao Bằng: https://baocaobang.vn/thuc-phan-an-duong-vuong-tu-truyen-thuyet-den-hien-thuc-3175829.html