Tạo mô hình căn cơ cho người dân vùng thủy điện
Để phát triển sinh kế bền vững vùng bị ảnh hưởng bởi thủy điện, việc lựa chọn mô hình phù hợp với từng địa bàn, hỗ trợ người dân 'cần câu' là rất cần thiết.

Các hộ dân được hỗ trợ quế giống để phát triển sinh kế. Ảnh: CÔNG TÚ
Các địa phương kiến nghị cần thực hiện chặt chẽ, đồng bộ, trách nhiệm trong triển khai cơ chế phối hợp giữa địa phương - đơn vị thủy điện - ngành chuyên môn.

BÀ TÀO THỊ TỐ ĐIỂM, CHỦ TỊCH UBND XÃ QUẾ PHƯỚC:
Gắn trách nhiệm để tạo sinh kế bền vững
Từ thực tiễn triển khai chương trình sinh kế những năm qua, tôi cho rằng yếu tố quan trọng nhất là phải lựa chọn đúng mô hình, phù hợp với điều kiện tự nhiên và tập quán sản xuất của người dân địa phương. Nếu mô hình không thích nghi với thổ nhưỡng, khí hậu và thói quen canh tác thì rất khó duy trì lâu dài, dù đầu tư ban đầu lớn đến đâu.
Vì vậy, xã Quế Phước đã chủ động quy hoạch các vùng sản xuất gắn với lợi thế miền núi như cây ăn quả bản địa, cây dược liệu và cây gỗ lớn... Đây đều là những loại cây trồng phù hợp với đất đai, giúp người dân ổn định sinh kế và từng bước hình thành sản xuất hàng hóa bền vững.
Để chương trình sinh kế đi vào thực chất, tôi thấy cần phải nhấn mạnh vai trò phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương với các đơn vị thủy điện và các ngành chuyên môn của thành phố. Thực tế tại một số địa phương trong lưu vực hồ thủy điện cho thấy, nếu phối hợp thiếu đồng bộ thì việc hỗ trợ cho người dân sẽ chậm và thiếu hiệu quả.
Do đó, chúng tôi đề xuất cần ràng buộc rõ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp thủy điện đối với cộng đồng nơi chịu tác động của dự án. Việc tham gia hỗ trợ sinh kế không nên chỉ dừng lại ở hoạt động mang tính tự nguyện mà phải được xem là nhiệm vụ lâu dài, hài hòa lợi ích giữa nhà máy và người dân đã nhường đất sản xuất, thay đổi sinh kế truyền thống.
Một vấn đề tôi rất trăn trở là chất lượng hỗ trợ kỹ thuật cho người dân. Trước đây, công tác chuyển giao khoa học công nghệ và giám sát mô hình còn hạn chế, dẫn đến một số mô hình triển khai chậm phát huy hiệu quả.
Để khắc phục, lãnh đạo xã đã chỉ đạo cán bộ khuyến nông, khuyến lâm phối hợp cán bộ chuyên môn tổ chức tập huấn theo hình thức “cầm tay chỉ việc”, theo sát từng hộ trong suốt quá trình thực hiện. Bên cạnh đó, lãnh đạo xã và các đoàn thể trực tiếp theo dõi, kịp thời tháo gỡ khó khăn cho người dân. Việc đánh giá mô hình cũng được đổi mới, dựa trên sự hài lòng và mức độ gắn bó của bà con, thay vì chỉ nhìn vào những con số kỹ thuật.
Bước sang giai đoạn 2026 - 2030, tôi kỳ vọng chương trình sinh kế sẽ chuyển trọng tâm từ hỗ trợ trực tiếp sang hướng dẫn cách làm ăn, xây dựng lộ trình cụ thể cho từng mô hình, huy động đa dạng nguồn lực và gắn trách nhiệm của từng nhà máy thủy điện với từng địa phương. Đây là nền tảng để đời sống người dân vùng hồ thủy điện Quế Phước được cải thiện một cách căn cơ, bền vững.

ÔNG NGUYỄN TẤN THÀNH, CHỦ TỊCH UBND XÃ TRÀ VÂN:
Chọn những mô hình phù hợp
Từ thực tiễn triển khai chương trình “Sinh kế cho người dân lưu vực các hồ chứa thủy điện đến năm 2025” và các dự án giảm nghèo trên địa bàn, tôi cho rằng bài toán then chốt của Trà Vân hiện nay là lựa chọn đúng mô hình sinh kế gắn với điều kiện tự nhiên và thế mạnh sẵn có của địa phương.
Thời gian qua, xã Trà Vân đã từng bước chuyển hướng sang các mô hình liên kết theo chuỗi giá trị, trong đó nổi bật là dự án trồng và tiêu thụ cây tre sinh khối tại thôn 1 với quy mô 14 ha, có 18 hộ dân tham gia, được tổ chức theo hướng liên kết chặt chẽ từ khâu giống, kỹ thuật đến tiêu thụ sản phẩm với doanh nghiệp chủ trì.
Bên cạnh đó, xã cũng triển khai các dự án liên kết trồng và tiêu thụ cây sâm Ngọc Linh tại các thôn 4, 5, 6 theo các chương trình mục tiêu quốc gia, qua đó giúp người dân từng bước tiếp cận sản xuất hàng hóa, thay đổi tư duy canh tác nhỏ lẻ, manh mún.
Một vấn đề sống còn là đầu ra cho sản phẩm. Các dự án tre sinh khối và sâm Ngọc Linh mà Trà Vân đang triển khai đều được thiết kế theo hướng liên kết tiêu thụ sản phẩm ngay từ đầu, bảo đảm 100% hộ tham gia có hợp đồng liên kết với đơn vị chủ trì dự án. Thời gian tới, xã sẽ tiếp tục phối hợp với Sở Công Thương và các ngành liên quan hỗ trợ xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu, từng bước hướng đến sản phẩm OCOP đạt chuẩn.
Bước sang giai đoạn mới, tôi kỳ vọng chương trình sinh kế tại Trà Vân sẽ chuyển mạnh từ hỗ trợ mang tính bao cấp sang hỗ trợ theo lộ trình, lấy liên kết chuỗi giá trị làm trục chính, huy động đa dạng nguồn lực từ ngân sách, doanh nghiệp thủy điện và các chương trình mục tiêu. Khi người dân được trao công cụ và cách làm ăn bài bản, sinh kế vùng hồ thủy điện mới thực sự bền vững và có khả năng lan tỏa lâu dài.

CHỊ HỒ THỊ DANH, GIÁM ĐỐC HỢP TÁC XÃ XÂY DỰNG, NÔNG LÂM NGHIỆP, THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ THIÊN DANH (XÃ TRÀ ĐỐC):
Cần nhiều chính sách khuyến khích mô hình kinh tế sáng tạo
Hợp tác xã Xây dựng, nông lâm nghiệp, thương mại dịch vụ Thiên Danh, đơn vị trực tiếp triển khai mô hình nuôi cấy nấm lim xanh trên giá thể gỗ lim, một trong những mô hình sinh kế được địa phương khởi xướng và từng bước đưa vào sản xuất ổn định.
Trước đây, vùng rừng Trà Đốc từng có nhiều nấm lim xanh tự nhiên, nhưng do khai thác rừng và thay đổi thổ nhưỡng, nguồn nấm này ngày càng khan hiếm. Qua tìm hiểu, thử nghiệm và học hỏi các mô hình kỹ thuật ngoài tỉnh, tôi đã mạnh dạn đưa công nghệ nuôi cấy nấm về áp dụng ngay tại địa phương. Mô hình không chỉ phục hồi sản lượng nấm, mà còn tạo sản phẩm OCOP 3 sao mang thương hiệu nấm lim xanh Trà Đốc, được thị trường đón nhận tốt với nhu cầu đặt hàng luôn vượt nguồn cung hiện tại.
Được thụ hưởng từ các chương trình sinh kế gắn với phát triển nông nghiệp bền vững, trong đó có việc khuyến khích ứng dụng khoa học kỹ thuật, đào tạo kỹ năng sản xuất và kết nối thị trường cho sản phẩm địa phương, tôi cảm nhận rõ tác động tích cực đến đời sống người dân.
Người tham gia mô hình như tôi không chỉ cải thiện thu nhập, mà còn góp phần giữ gìn văn hóa, sử dụng công nghệ phù hợp với điều kiện tự nhiên, đặc biệt là tận dụng nguồn gỗ lim trong rừng mà không phải chặt thân cây lớn để khai thác nguyên liệu.
Tuy nhiên, tôi cũng thấy rằng để mô hình phát triển ổn định hơn nữa, chúng tôi vẫn rất cần trợ giúp về nguồn lực và cơ chế. Chúng tôi mong muốn được hỗ trợ thêm diện tích đất thuê sản xuất với chi phí ưu đãi, cũng như tiếp cận các nguồn vốn vay, máy móc thiết bị đáp ứng quy mô sản xuất liên tục.
Nhìn chung, từ góc độ người dân trực tiếp tham gia mô hình, chương trình sinh kế đã tạo điều kiện rất lớn để chúng tôi yên tâm đầu tư sản xuất, cải thiện sinh kế lâu dài, đồng thời góp phần thúc đẩy kinh tế hợp tác xã miền núi phát triển theo hướng bền vững, phù hợp với định hướng phát triển chung của Đà Nẵng.

ÔNG NGUYỄN HỮU SANH, PHÓ CHỦ TỊCH UBND XÃ SÔNG KÔN:
Phát triển sinh kế lòng hồ gắn với bảo vệ rừng
Xã Sông Kôn được thành lập trên cơ sở sáp nhập ba xã A Ting, Jơ Ngây và Sông Kôn. Sau sắp xếp, xã có dân số 8.746 người với 2.208 hộ dân, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm khoảng 89%. Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo còn cao, đời sống người dân chủ yếu dựa vào nông - lâm nghiệp và chăn nuôi, hạ tầng kinh tế - xã hội vẫn còn nhiều hạn chế.
Những năm qua, chương trình sinh kế cho người dân vùng ảnh hưởng thủy điện Sông Côn 2 (chủ đầu tư là Công ty CP Thủy điện Geruco Sông Côn) được triển khai đồng bộ trên địa bàn xã. Thông qua công tác tuyên truyền, vận động, người dân từng bước thay đổi nhận thức, chủ động chuyển đổi mô hình sản xuất phù hợp điều kiện tự nhiên và thực tiễn địa phương.
Xã đã triển khai 4 mô hình nuôi cá lồng bè (chủ yếu là cá diêu hồng) với quy mô 60m2²/hộ, doanh nghiệp thủy điện hỗ trợ gần 400 triệu đồng. Người dân cũng được hỗ trợ giống, thức ăn, vật tư và tập huấn kỹ thuật. Kết quả cho thấy cá sinh trưởng tốt, góp phần hình thành sinh kế phù hợp vùng lòng hồ.
Chúng tôi xác định phát triển sinh kế từ rừng và bảo vệ lưu vực thủy điện là hướng đi lâu dài. Do đó, xã định hướng đẩy mạnh trồng rừng gỗ lớn, khuyến khích trồng các loại dược liệu dưới tán rừng và cây ăn quả phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng (lòn bon, sầu riêng, mít...); chú trọng phát triển kinh tế vườn nhằm tạo thu nhập ổn định, vừa góp phần bảo vệ rừng đầu nguồn.
Địa phương thành lập các tổ quản lý bảo vệ rừng tại các thôn, tăng cường công tác tuần tra gắn trách nhiệm cộng đồng với bảo vệ rừng, bảo vệ lưu vực các công trình thủy điện, bảo đảm an toàn hồ đập và nguồn nước.
Chúng tôi cũng nhận thấy tiềm năng phát triển du lịch lòng hồ thủy điện gắn với cảnh quan thiên nhiên và bản sắc văn hóa đồng bào Cơ Tu. Chính vì vậy, xã định hướng phát triển du lịch sinh thái, du lịch trải nghiệm theo hướng quy mô nhỏ, bền vững; kết hợp tham quan lòng hồ, trải nghiệm nuôi cá lồng bè, câu cá giải trí và giới thiệu ẩm thực, sản phẩm địa phương.
Đáng chú ý, Công ty CP Thủy điện Geruco Sông Côn đang triển khai xây dựng dự án nhà máy điện năng lượng mặt trời trong lòng hồ thủy điện Sông Côn 2. Dự án không chỉ góp phần đa dạng hóa nguồn năng lượng sạch, tận dụng hiệu quả 30ha mặt nước lòng hồ, mà còn mở ra cơ hội việc làm, dịch vụ phụ trợ và các mô hình sinh kế mới cho người dân. UBND xã sẽ phối hợp chặt chẽ với doanh nghiệp trong quá trình triển khai dự án, bảo đảm hài hòa giữa phát triển năng lượng tái tạo, bảo vệ môi trường và ổn định đời sống nhân dân.
Để các mô hình sinh kế phát huy hiệu quả bền vững, việc xây dựng cơ chế liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm là yếu tố then chốt, xã đã định hướng tổ chức lại sản xuất theo hình thức tổ hợp tác, hợp tác xã, từng bước hình thành các chuỗi liên kết nuôi cá, hươu sao lấy nhung, bò; đẩy mạnh mô hình nuôi heo đen địa phương, gà, ngan… Thời gian tới, xã Sông Kôn tiếp tục lồng ghép các nguồn vốn từ các Chương trình mục tiêu quốc gia, kết hợp với nguồn xã hội hóa và sự đồng hành có trách nhiệm của doanh nghiệp thủy điện trong việc phát triển kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội.

ÔNG BHIRYU LONG, CHỦ TỊCH UBND XÃ BẾN HIÊN:
Cần thêm trợ lực sinh kế
Là xã miền núi phía tây thành phố Đà Nẵng, Bến Hiên có địa hình đồi núi dốc, nhiều khe suối, thường xuyên chịu ảnh hưởng của mưa bão, sạt lở. Việc ổn định sinh kế cho người dân, nhất là các hộ vùng ảnh hưởng thủy điện được Đảng bộ, chính quyền xã xác định là nhiệm vụ trọng tâm, gắn với mục tiêu phát triển bền vững và an sinh xã hội.
Tuy nhiên, địa phương hiện vẫn còn khó khăn về nhiều mặt, số hộ nghèo còn cao. Chính vì vậy, việc thực hiện “Chương trình sinh kế cho người dân lưu vực các hồ thủy điện” cần được tiếp tục quan tâm triển khai và phát huy hơn nữa trong bối cảnh mới.
Cần phải khẳng định, xây dựng mô hình phát triển sinh kế cho người dân lưu vực các hồ chứa thủy điện là nhu cầu hết sức bức thiết, gắn liền với điều kiện, năng lực tổ chức sản xuất. Hành động này còn thể hiện rõ tinh thần trách nhiệm với cộng đồng, chung tay vì sự phát triển của địa phương từ phía doanh nghiệp thủy điện.
Phát triển kinh tế lòng hồ, tiếp tục hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi; hướng dẫn kỹ thuật nuôi trồng, chuyển giao khoa học công nghệ. Đặc biệt, các đơn vị cần tích cực phối hợp, hỗ trợ xây dựng dự án mô hình điểm sản xuất nông nghiệp, dân cư, du lịch tại thôn tái định cư Cutchrun.

ÔNG A RẤT VỚI, TRƯỞNG THÔN A XỜ (XÃ BẾN HIÊN):
Bài toán an cư cho người dân
Người dân đang sinh sống trên địa bàn thôn có nhiều hộ thuộc diện di dời ra khỏi lòng hồ thủy điện A Vương, Za Hưng và được bố trí nơi ở mới tại khu tái định cư Cutchrun. Có hộ được bố trí tại khu tái định cư Pachepalanh (thôn A Roong), nhưng mua đất tại thôn A Xờ để ổn định chỗ ở.
Thực hiện “Chương trình sinh kế cho người dân lưu vực các hồ thủy điện”, những năm qua, Công ty CP Thủy điện A Vương (chủ đầu tư thủy điện A Vương), Công ty CP Tập đoàn Za Hưng (chủ đầu tư thủy điện Za Hưng) đã hỗ trợ cây giống như quế Yên Bái, cây dược liệu cho người dân còn diện tích đất sản xuất tại sát lòng hồ.
Thôn có 2 hộ được cấp cây quế giống vào năm 2024, sau khi trồng tỷ lệ sống hơn 85%. Trước khi sáp nhập xã, người dân cũng được tập huấn trồng tre điền trúc lấy măng, đi xem thực tế mô hình này tại Quảng Ngãi. Các thủy điện cũng đã hỗ trợ xây dựng 5 căn nhà cho hộ gia đình chính sách, hộ nghèo (thủy điện Sông Bung 5 hỗ trợ 2 nhà, thủy điện A Vương 2 nhà, thủy điện Za Hưng 1 nhà). Các chủ hồ còn hỗ trợ con giống, tặng các nhu yếu phẩm.
Để ổn định đời sống và cải thiện thu nhập cho người dân, chúng tôi kiến nghị các doanh nghiệp thủy điện tiếp tục hỗ trợ quế giống và các giống cây ăn quả khác. Cần tái khởi động thực hiện mô hình trồng tre điền trúc lấy măng cho người dân (người dân đã được tập huấn, đi thực tế nhưng chưa triển khai).
Tiếp tục quan tâm xây dựng nhà cho đối tượng chính sách, hộ nghèo và cần mở rộng ra đối tượng hộ cận nghèo gặp khó khăn về nhà ở. Người dân phải di dời ra khỏi lòng hồ thủy điện, xây dựng nhà nơi ở mới đã cách đây hơn 20 năm nên hiện nay đã xuống cấp nặng, cần có chính sách hỗ trợ sữa chữa cũng như hỗ trợ nguồn lực để lắp đặt điện chiếu sáng trên các tuyến đường giao thông nông thôn.
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/tao-mo-hinh-can-co-cho-nguoi-dan-vung-thuy-dien-3318004.html











