Tầm quan trọng của chế độ dinh dưỡng trong bệnh ĐTĐ

Chế độ dinh dưỡng cho bệnh nhân đái tháo đường (ĐTĐ) cần đảm bảo các nguyên tắc: Đủ chất đạm, béo, bột đường, vitamin, muối khoáng với khối lượng hợp lý…

Bệnh nhân ĐTĐ cần chú ý đến chế độ dinh dưỡng

Bệnh nhân ĐTĐ cần chú ý đến chế độ dinh dưỡng

Theo Hiệp hội Đái tháo đường Thế giới, hiện tại trên thế giới có khoảng 371 triệu người mắc ĐTĐ và 280 triệu người có nguy cơ cao mắc bệnh này. Trong đó, hơn 80% người bệnh đang sống ở những quốc gia có thu nhập thấp và trung bình. Ở Việt Nam, tỷ lệ ĐTĐ là 5,7%.

Bệnh ĐTĐ thường xảy ra sau tuổi 40 và được xem như là giai đoạn đầu của nhiều rối loạn khác như xơ vữa động mạch, cao huyết áp, đục nhân mắt, xuất huyết võng mạc, bệnh mạch vành dẫn đến suy tim, tổn thương thận…

ĐTĐ là một bệnh rối loạn chuyển hóa đường, gây tăng đường huyết mạn tính kéo theo rối loạn chuyển hóa lipid, protite và điện giải. Hậu quả muộn của các rối loạn chuyển hóa này là tổn thương các vi mạch, các mạch máu nhỏ và mạch máu lớn dẫn tới các tai biến như đã nêu ở trên, thậm chí có thể tử vong.

Chế độ ăn là vấn đề quan trọng nhất trong điều trị bệnh ĐTĐ với mục đích nhằm đảm bảo cung cấp đủ, cân bằng cả về số lượng và chất lượng các thành phần dinh dưỡng để có thể điều chỉnh tốt đường huyết, duy trì cân nặng theo mong muốn, đảm bảo cho người bệnh có đủ sức khỏe để hoạt động và công tác phù hợp với từng cá nhân.

Chế độ dinh dưỡng cho bệnh nhân ĐTĐ cần đảm bảo các nguyên tắc: Đủ chất đạm, béo, bột đường, vitamin, muối khoáng với khối lượng hợp lý. Không làm tăng đường máu sau bữa ăn và hạ đường máu lúc xa bữa ăn. Hạn chế được các rối loạn chuyển hóa. Duy trì được cân nặng ở mức hợp lý. Duy trì được hoạt động thể lực hằng ngày. Phù hợp với tập quán ăn uống của địa phương. Đơn giản, tiện lợi và không quá đắt tiền.

Nhu cầu năng lượng và các chất dinh dưỡng đối với bệnh nhân ĐTĐ

Nhu cầu năng lượng: Bệnh nhân ĐTĐ cũng có nhu cầu năng lượng gần giống như người bình thường. Tuy nhiên, nhu cầu này tăng hay giảm còn phụ thuộc vào tuổi, loại lao động, thể trạng béo hay gầy…

Glucid (chất bột đường): Trong bệnh ĐTĐ, đường huyết có chiều hướng tăng vọt sau khi ăn, do vậy điều cơ bản trong chế độ ăn của bệnh nhân là phải hạn chế glucid, tuy nhiên không được giảm quá nhiều để cơ thể vẫn có thể duy trì được cân nặng và hoạt động bình thường.

Tỉ lệ năng lượng do glucid được chấp nhận là 50-60% (người bình thường là 65%) tổng số năng lượng của khẩu phần. Nên sử dụng các glucid phức hợp gồm gạo, khoai củ. Hạn chế các loại đường đơn và các loại thức ăn có hàm lượng đường cao (đường, bánh, mứt, kẹo, nước ngọt).

Để bệnh nhân ĐTĐ dễ dàng trong việc lựa chọn thực phẩm, người ta chia thức ăn thành từng loại có hàm lượng glucid khác nhau:

Loại có hàm lượng glucid trên 5%: Người bệnh có thể sử dụng hằng ngày, gồm các loại thịt, cá, đậu phụ (với số lượng vừa phải), hầu hết các loại rau xanh còn tươi và một số trái cây ít ngọt như dưa bở, mận, nho ta, nhót chín… (có thể sử dụng không hạn chế).

Loại có hàm lượng glucid từ 10%-20%: Nên ăn hạn chế (mỗi tuần 3-4 lần với số lượng vừa phải) gồm một số hoa quả tương đối ngọt như quýt, táo, vú sữa, na, hồng xiêm, xoài chín sữa đậu nành, các loại đậu quả (đậu vàng, đậu Hà lan…).

Loại có hàm lượng glucid trên 20%: Cần kiêng hay rất hạn chế sử dụng vì khi ăn vào làm tăng nhanh đường huyết, gồm các loại bánh, mứt, kẹo, nước ngọt và các loại trái cây ngọt nhiều. Riêng gạo là lương thực quen ăn hằng ngày thì cần khống chế số lượng từng bữa (không quá 70g/bữa chính).

Protein (chất đạm): Lượng protein nên đạt 0,8kg/ngày đối với người lớn. Khẩu phần ăn có quá nhiều đạm sẽ không tốt cho thận, tuy nhiên lượng đạm trong khẩu phần của bệnh nhân ĐTĐ cần cao hơn so với người bình thường và nên đạt 15%-20% năng lượng khẩu phần (người bình thường là 12-14%). Nên sử dụng phối hợp cả protein động vật (thịt, cá, trứng, sữa) với protein thực vật (vừng lạc, đậu, đỗ).

Lipid (chất béo): Nên ăn chất béo vừa phải và giảm chất béo bão hòa (mỡ động vật) vì dễ gây xơ vữa động mạch. Nhưng khẩu phần của người ĐTĐ cũng rất cần chất béo để cung cấp năng lượng (bù lại phần năng lượng do glucid cung cấp bị giảm đi). Nên ăn các acid béo bão hòa có trong các loại dầu hạt (dầu đậu nành, dầu mè, dầu hướng dương…). Tỉ lệ năng lượng do chất béo nên là 25% tổng số năng lượng khẩu phần (người bình thường là 18-20%) và không nên vượt quá 30%

Vitamin và các yếu tố vi lượng: Cần đảm bảo đủ các vitamin và yếu tố vi lượng (sắt, iodine…). Các thành phần này thường có trong rau quả tươi.

Chất xơ: Nên ăn những thức ăn có nhiều chất xơ (celluloza), nhất là chất xơ hòa tan. Chất xơ có nhiều trong gạo giã chưa kỹ; rau; củ, quả (làm rau); khoai củ có tác dụng chống táo bón, giảm tăng đường huyết và cholesterol sau bữa ăn.

Số bữa ăn: Để đảm bảo không bị tăng đường huyết sau bữa ăn và hạ đường huyết xa bữa ăn, nên chia nhỏ các bữa ăn trong ngày dựa trên tổng số năng lượng của cả ngày như sau: Bữa sáng: 10%; bữa phụ buổi sáng: 10%; bữa trưa: 30%; bữa phụ buổi chiều: 10%; bữa tối: 30%; bữa phụ buổi tối (trước khi đi ngủ): 10%

Ngoài chế độ dinh dưỡng, bệnh nhân ĐTĐ cần có nếp sống năng động, tránh tình trạng trì trệ. Đồng thời thực hiện lối sống lành mạnh, hoạt động thể lực thường xuyên và hợp lý. Giữ cân nặng ở mức tiêu chuẩn, không để tăng cân quá ngưỡng là những yếu tố tích cực giúp phòng tránh bệnh ĐTĐ.

TS. Hoàng Kim Thanh (Viện Dinh dưỡng)

Nguồn Chính Phủ: http://baodientu.chinhphu.vn/doi-song/tam-quan-trong-cua-che-do-dinh-duong-trong-benh-dtd/185763.vgp