Ngày 7/4, thị trường thép trong nước đã có điều chỉnh giảm giá bán. Còn trên sàn giao dịch Thượng Hải, với thép kỳ hạn tháng 10/2023 tăng lên mức 4.002 Nhân dân tệ/tấn.
Ngày 7/4, thị trường thép trong nước duy trì ổn định. Còn trên sàn giao dịch Thượng Hải, với thép kỳ hạn tháng 10/2023 tăng lên mức 3.984 Nhân dân tệ/tấn.
Ngày 6/4, thị trường thép trong nước bình ổn giá bán. Còn trên sàn giao dịch Thượng Hải, với thép kỳ hạn tháng 10/2023 đã giảm sâu xuống mức 3.975 Nhân dân tệ/tấn.
Ngày 5/4, thị trường thép trong nước duy trì bình ổn. Còn trên sàn giao dịch Thượng Hải, thép kỳ hạn tháng 10/2023 giảm sâu xuống mức 3.975 Nhân dân tệ/tấn.
Ngày 4/4, thị trường thép trong nước bình ổn giá bán. Còn trên sàn giao dịch Thượng Hải, với thép kỳ hạn tháng 10/2023 đã giảm xuống mức 4.024 Nhân dân tệ/tấn.
Ngày 3/4, thị trường thép trong nước bình ổn giá bán. Còn trên sàn giao dịch Thượng Hải, với thép kỳ hạn tháng 5/2023 đã giảm xuống mức 4.139 Nhân dân tệ/tấn.
Từ ngày 21/3 đến nay, nhiều doanh nghiệp sản xuất thép trong nước đã điều chỉnh tăng giá sản phẩm thép thanh vằn D10 CB300, hiện có giá khoảng 15,9-16 triệu đồng/tấn.
Ngày 1/4, thị trường thép trong nước ổn định. Còn trên sàn giao dịch Thượng Hải, với thép kỳ hạn tháng 10/2023 đã giảm xuống mức 4.122 Nhân dân tệ/tấn.
Ngày 31/3, thị trường thép trong nước bình ổn giá bán. Còn trên sàn giao dịch Thượng Hải, với thép kỳ hạn tháng 10/2023 đã tăng lên mức 4.136 Nhân dân tệ/tấn.
Ngày 30/3, thị trường thép trong nước bình ổn giá bán; Tập đoàn Hòa Phát sẽ khởi động lại lò cao số 3. Còn trên sàn giao dịch Thượng Hải, với thép kỳ hạn tháng 10/2023 đã tăng lên mức 4.126 Nhân dân tệ/tấn.
Ngày 29/3, thị trường thép trong nước giữ nguyên giá bán so với ngày hôm qua. Còn trên sàn giao dịch Thượng Hải, với thép kỳ hạn tháng 10/2023 đã tăng lên mức 4.112 Nhân dân tệ/tấn.
Ngày 28/3, thị trường thép trong nước bình ổn giá bán. Còn trên sàn giao dịch Thượng Hải, với thép kỳ hạn tháng 10/2023 đã tăng lên mức 4.068 Nhân dân tệ/tấn.
Ngày 27/3, thị trường thép trong nước bình ổn giá bán. Còn trên sàn giao dịch Thượng Hải, với thép kỳ hạn tháng 11/2023 đã tăng lên mức 4.054 Nhân dân tệ/tấn.
Thổ Nhĩ Kỳ nổi lên như một thị trường tiềm năng mới cho hoạt động xuất khẩu thép của Việt Nam. Riêng 2 tháng đầu năm nay, Việt Nam đã xuất 104.000 tấn thép sang nước bạn.
Ngày 25/3, thép thanh vằn trong nước không có biến động. Còn trên sàn giao dịch Thượng Hải, với thép kỳ hạn tháng 10/2023 đã tăng nhẹ lên mức 4.040 Nhân dân tệ/tấn.
Ngày 24/3, thép thanh vằn trong nước tăng giá bán. Còn trên sàn giao dịch Thượng Hải, với thép kỳ hạn tháng 10/2023 đã giảm xuống mức 4.039 Nhân dân tệ/tấn.
Ngày 23/3, thép thanh vằn trong nước tăng giá bán. Còn trên sàn giao dịch Thượng Hải, với thép kỳ hạn tháng 12/2023 đã tăng mức 4.150 Nhân dân tệ/tấn.
Ngày 22/3, thép thanh vằn trong nước tăng giá bán. Còn trên sàn giao dịch Thượng Hải, với thép kỳ hạn tháng 10/2023 đã tăng nhẹ mức 4.108 Nhân dân tệ/tấn.
Nguyên liệu đầu vào tăng cao buộc các doanh nghiệp thép trong nước phải điều chỉnh giá tăng từng ngày. Trong vòng 1 tháng, giá thép xây dựng đã tăng 3 lần với mức tăng khoảng 1 - 1,4 triệu đồng/tấn tùy thương hiệu.
Ngày 15/8, nhiều doanh nghiệp sản xuất thép đồng loạt hạ khoảng 300.000-510.000 đồng/tấn các sản phẩm, hiện giá thép xây dựng đang ở mức 14,4 – 15,7 triệu đồng/tấn.
Giá thép trong nước lại tiếp tục được giảm thêm, cao nhất tới 650.000 đồng/tấn. Đây là lần giảm giá thứ 12 liên tiếp của giá thép kể từ ngày 11/5, với tổng mức giảm cao nhất tới 4,1 triệu đồng/tấn.
Giá thép trong nước tiếp tục được giảm thêm cao nhất tới 360.000 đồng/tấn từ ngày 27/7. Đây là lần giảm giá thứ 11 liên tiếp của giá thép kể từ ngày 11/5, với tổng mức giảm cao nhất tới gần 4 triệu đồng/tấn.
Giá thép trong nước tiếp tục được giảm thêm cao nhất tới 360.000 đồng/tấn từ ngày 27/7. Đây là lần giảm giá thứ 11 liên tiếp của giá thép kể từ ngày 11/5, với tổng mức giảm cao nhất tới gần 4 triệu đồng/tấn.
Đóng cửa phiên giao dịch ngày 27/7, lực mua chiếm ưu thế trên thị trường hàng hóa.
Trong khi giá thép giảm mạnh thì một số vật liệu xây dựng khác như xi măng, cát, đá… vẫn ở mức cao.