Lệ Tế thu ở Di tích kiến trúc nghệ thuật Quốc gia Đình làng Tú Luông

Sáng 8/10, Ban Quản lý Di tích kiến trúc nghệ thuật Quốc gia Đình làng Tú luông, phường Tiến Thành (Lâm Đồng) tổ chức Lệ Tế thu.

Đình làng Tú Luông: Nơi lưu giữ hồn quê miền biển

Sáng 8/10 (ngày 17/8 âm lịch), tại di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia Đình làng Tú Luông, phường Tiến Thành (tỉnh Lâm Đồng), rất đông người dân địa phương và vùng lân cận tham dự Lễ tế thu.

Tiền đời vua Nguyễn Dực Tông (1848 - 1883) Kỳ II - Tiền có mỹ hiệu 8 chữ

Tiền Mỹ hiệu 4 chữ và 8 chữ thời Tự Đức, dạng tròn lỗ vuông, có gờ viền cạnh và viền lỗ. Mặt trước đúc nổi 4 chữ 'Tự Đức thông bảo' (嗣德通寳) theo lối Chân thư, bố trí đọc chéo. Mặt sau khắc 8 chữ 'Vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế thọ' (萬歲萬歲萬萬歲夀) sắp theo vòng và đọc ngược chiều kim đồng hồ, thể hiện lời chúc trường thọ hoàng đế. Kích cỡ lớn: đường kính 51 mm, dày 3 mm, nặng 32,7 g, cho thấy đây là loại tiền mỹ hiệu đúc tinh xảo, giá trị sưu tầm cao.

Tiền mang mỹ hiệu được đúc bằng đồng, có loại 4 chữ, loại 8 chữ như các đời vua trước nhưng số lượng ít hơn.

Giữ hồn sông nước qua lễ hội bơi trải Hoàng Mai

Lễ hội bơi trải làng Yên Duyên năm 2025 do UBND phường Hoàng Mai tổ chức, thu hút đông đảo người dân và du khách tham gia, tạo nên không khí rộn ràng bên dòng sông quê.

Tiền đời vua Nguyễn Dực Tông (1848 - 1883)

Tháng 10 năm Đinh Mùi (1847), Nguyễn Phúc Hồng Nhậm, con thứ hai của vua Thiệu Trị, sinh ngày 25 tháng 8 năm Kỷ Sửu (1829) lên ngôi (tức vua Nguyễn Dực Tông), đặt niên hiệu Tự Đức (1848-1833). Vua Tự Đức là ông vua trị vì lâu nhất của triều Nguyễn (38 năm). Về chế đúc và lưu thông tiền tệ, vua Tự Đức thừa kế mọi chế độ của vua Minh Mệnh, vua Thiệu Trị và cũng cho đúc các loại tiền: tiền đồng, tiền kẽm, tiền bạc, tiền vàng để lưu thông, đồng thời cũng cho đúc tiền mỹ hiệu.

Tiền đời vua Nguyễn Hiến Tổ (1841 - 1847) - Kỳ V: Thoi bạc

Năm Thiệu Trị thứ 4 (1844), triều đình ban hành quy định đúc bạc kiểu mới, mỏng hơn, có dấu niên hiệu, năm đúc, tên tỉnh và chữ 'nội thảng'. Mỗi tỉnh (trừ Hà Tĩnh, Quảng Bình, Ninh Bình) được cấp khuôn đúc bạc 10 lạng và 1 lạng. Bộ Hộ quy định bạc không có dấu đúng chuẩn chỉ lưu hành đến tháng Giêng năm Thiệu Trị thứ 6 (1846). Dân muốn đúc lại phải nộp đơn, trả công thợ. Năm tỉnh Thừa Thiên, Gia Định, Hà Nội, Bình Định, Nghệ An lập sở đúc, quan sở tại quản lý việc đúc bạc.

Tiền đời vua Nguyễn Hiến Tổ (1841 - 1847) - Kỳ IV: Tiền bằng bạc

Đời vua Minh Mệnh cho đúc bạc tròn, nhưng số lượng ít. Đời vua Thiệu Trị tiếp tục đúc bạc tròn, đa dạng hơn nhiều. Bạc tròn đời vua Thiệu Trị có 2 loại: Có lỗ vuông như tiền đồng và không có lỗ. Bạc tròn đúc ra vừa để lưu thông, nhưng cũng có thể dùng làm tiền thưởng. Bạc tròn đời vua Thiệu Trị có hai đặc điểm: có những hình tượng đẹp như con rồng bay lượn trên mây- long vân khế hội, nhật nguyệt tinh vân… Đồng bạc tròn Thiệu Trị được coi như là những tác phẩm nghệ thuật.

Làng Yên Hoạch xưa và nay

'Từ làng Yên Hoạch (nay là tổ dân phố Tân Cộng, phường Đông Sơn), đứng ở trên đỉnh núi Nam có thể nhìn thấy ở phía Bắc là dãy Phượng Hoàng (Rừng Thông) vẫy cánh; dõi nhìn về phía Tây là dãy Ngàn Nưa hùng vĩ chắn ngang dải đồng bằng của xứ Thanh như một bức tường thành đồ sộ, nhìn về phía Đông là dãy Cánh Tiên – Hàm Rồng thơ mộng, thậm chí, còn thấy núi Dàn, núi Ninh, núi Vọng Phu cảm giác gần trong gang tấc' (Phạm Tấn). Cảnh trí thơ mộng ấy không phải mảnh đất nào cũng may mắn có được.

Tiền đời vua Nguyễn Hiến Tổ (1841 - 1847) - Kỳ III: Tiền đồng lớn

Vua Thiệu Trị (1841 - 1847) là vị hoàng đế thứ ba của triều Nguyễn. Trong thời gian trị vì, nhà vua tiếp nối chính sách của vua Minh Mạng, đồng thời có những cải cách riêng. Về tiền tệ, Thiệu Trị cho phát hành tiền đồng gọi là Thiệu Trị Thông Bảo. Loại tiền này được đúc bằng đồng, hình tròn, giữa có lỗ vuông theo truyền thống 'tiền cổ phương trung' của Á Đông, vừa thuận tiện xâu thành chuỗi, vừa mang ý nghĩa trời tròn đất vuông.

Tiền đời vua Nguyễn Hiến Tổ (1841 - 1847) - Kỳ II: Tiền đồng lớn

Khác với vua Minh Mệnh, tiền đời vua Thiệu Trị có các mỹ hiệu tán dương triều đại, nhưng không lưu thông, không dùng để ban thưởng mà chỉ để lưu trữ trong kho. Loại tiền này được đúc một đợt vào tháng 2 năm Bính Ngọ, năm Thiệu Trị thứ 6 (1846). Tất cả có một vạn đồng chia ra làm 40 thứ (17 thứ có mỹ hiệu 4 chữ, 23 thứ có mỹ hiệu 8 chữ).

Tiền đời vua Nguyễn Thánh Tổ (1820 - 1841) - Kỳ VI: Thoi bạc

Năm Minh Mệnh thứ 7 [1826], mùa hạ, tháng 5… Quan Bắc Thành tâu rằng bạc đĩnh có 6 hạng là để dùng cho tiện, mang cho nhẹ; nhưng từ 1 đồng cân đến 5 đồng cân, dân gian ít người muốn đúc dùng. Xin cho từ nay nhân dân mang bạc đến cục Bảo tuyền để đúc, thì đại ước cứ mỗi suất 500 lạng thì 350 lạng cho đúc đĩnh 10 lạng, 100 lạng đúc đĩnh 1 lạng và 50 lạng đúc cho đĩnh từ 1 đồng cân đến 5 đồng cân. Vua y lời tâu, rồi lại nghĩ số bạc hàng trăm thì người tài sản bậc trung không thể đủ được, lại hạ lệnh rằng dân có muốn đúc thì cho được tùy tiện, không phải viện lệ bắt theo' Ngày nay, thoi bạc 10 lạng phát hiện được các loại sau...

Tiền đời vua Nguyễn Thánh Tổ (1820 - 1841) - Kỳ V: Bạc tròn

Bạc tròn thời Minh Mệnh có hai loại: loại có lỗ vuông như tiền đồng và loại không lỗ, trong đó loại không lỗ được đúc nhiều hơn. Năm Minh Mệnh thứ 13 (1832), triều đình đúc kim tiền và ngân tiền Phi long với quy cách vàng và bạc rõ ràng. Bạc tròn có nhiều kích cỡ, được đúc qua nhiều đợt. Một số tiêu biểu gồm: Minh Mệnh thông bảo - Phi long, mặt trước khắc bốn chữ, lưng là hình rồng bay; Minh Mệnh thông bảo - Long văn, mặt tiền có hoa văn tinh xảo, lưng tiền trang trí rồng và mặt trời; Phi long thập tam (1832), lưng tiền có rồng năm móng và chữ 'Thập tam'; Phi long thập tứ (1833), đúc theo công thức pha kim loại mới, lưng khắc rồng cùng chữ 'Thập tứ'; và Phi long thập ngũ (1834), tương tự nhưng có chữ 'Thập ngũ'. Những đồng bạc tròn này không chỉ mang giá trị lưu thông mà còn thể hiện kỹ nghệ tinh xảo, tư tưởng đề cao vương quyền và biểu tượng rồng thiêng của triều Nguyễn.

Tiền đời vua Nguyễn Thánh Tổ (1820 - 1841) - Kỳ III: Tiền đồng lớn

Ngoài việc phát hành tiền đồng thông thường, vua Minh Mệnh còn cho đúc loại tiền đồng lớn có mỹ hiệu, mang ý nghĩa đặc biệt. Tháng 11 năm Đinh Dậu, Minh Mệnh thứ 18 (1837), triều đình ban hành quy định chính thức: tiền đồng lớn có giá trị quy đổi, 1 đồng bằng 1 tiền, được lấy làm chuẩn trong giao dịch. Nếu ai tự ý nâng hoặc hạ giá trị so với quy định sẽ bị xử tội theo luật. Loại tiền này không chỉ phục vụ lưu thông mà còn có chức năng biểu tượng, nhằm ca ngợi công đức của vua, đề cao sự hưng thịnh của triều đại và gửi lời chúc lành tới các quan lại trong triều.

Tiền đời vua Nguyễn Thánh Tổ (1820 - 1841) - Kỳ II: Tiền kẽm

Năm Minh Mệnh thứ nhất (1820), vua ban lệnh từ Nghệ An trở ra phải dùng tiền kẽm thay cho tiền đồng cũ, nhằm đáp ứng nhu cầu giao dịch của dân. Triều đình quy định tất cả các hoạt động thu nộp, mua bán đều phải sử dụng 'Gia Long thông bảo' và 'Minh Mệnh thông bảo'. Tuy nhiên, tiền kẽm tuy đúc đẹp nhưng chất lượng kém, ít được ưa chuộng. Để ngăn tình trạng chọn bỏ tiền, triều đình buộc tiền mới và tiền cũ đều phải dùng, đồng thời đặt ra hình phạt nghiêm khắc với hành vi vi phạm: ai đúc trộm tiền bị xử giảo giam hậu, tịch thu gia sản; người tố cáo được thưởng 50 lạng bạc. Người vận chuyển, buôn bán trộm kẽm bị phạt 60 trượng, đồ 1 năm, hàng hóa và thuyền bị sung công, tang vật chia thưởng cho người tố giác. Quan lại địa phương nếu buông lỏng kiểm soát thì bị tội thất sát, cố ý dung túng thì đồng tội với kẻ phạm. Người làm việc trong xưởng đúc nếu mang kẽm ra ngoài cũng bị xử như tội lấy trộm tiền lương trong kho. Chính sách này cho thấy quyết tâm của triều đình trong việc quản lý tiền tệ và duy trì trật tự kinh tế...

Tiền đời vua Nguyễn Thánh Tổ (1820 - 1841) - Kỳ I: Tiền đồng

Vua Nguyễn Thánh Tổ, tên thật Nguyễn Phúc Hiệu, tự Phúc Đảm, là con thứ tư của vua Gia Long, sinh năm 1791, lên ngôi năm 1820 với niên hiệu Minh Mệnh (1820–1841). Ông trị vì 21 năm, nổi tiếng là vị vua cần mẫn, chú trọng quản lý triều chính và xây dựng đất nước, đạt nhiều thành tựu quan trọng. Một trong những điểm nổi bật thời Minh Mệnh là sự phong phú về tiền tệ, cả về loại hình lẫn số lượng lưu hành. Ngay từ năm đầu tiên (1820), nhà vua đã cho đúc tiền 'Minh Mệnh thông bảo' 6 phân bằng đồng và kẽm. Việc chế tạo tuân thủ quy chuẩn chặt chẽ về tỷ lệ hợp kim và quy trình sản xuất, đảm bảo số lượng tiền lưu thông và tiền công cho thợ đúc. Tiền đồng Minh Mệnh thông bảo có 4 chữ nổi '明命通寳' ở mặt trước theo lối Chân thư, chữ to, nét rõ, mặt sau trơn, vành viền nổi. Đồng tiền khá mỏng, đường kính khoảng 22,4–25,8mm, dày 1mm, nặng 2,5–3,8g. Đây là minh chứng cho sự chú ý của vua Minh Mệnh trong việc quản lý kinh tế và phát triển đất nước, tạo tiền đề cho một hệ thống tiền tệ ổn định và chuẩn mực hơn.

Ra mắt ấn phẩm 'Lược khảo về khoa cử Việt Nam'

Nhà xuất bản Tổng hợp TPHCM vừa ra mắt ấn phẩm 'Lược khảo về khoa cử Việt Nam' của tác giả Trần Văn Giáp, do Nguyễn Phúc An khảo chú. Tập sách mang đến cho độc giả cái nhìn về khoa cử thời phong kiến tại Việt Nam và cách tuyển chọn nhân tài phục vụ quốc gia thời xưa.

Tiền triều Nguyễn (1802 - 1945) Kỳ III - Tiền đời vua Nguyễn Thế Tổ (1802 - 1819)

Thoi bạc thời Gia Long nhằm chuẩn hóa tiền tệ và chống gian lận. Năm 1812 (Gia Long 11) có thoi 'Tinh ngân nhất lượng': hình khối chữ nhật, mặt trước đúc nổi '嘉隆年造', lưng '精銀壹両' (Triện thư), cạnh trái '中平號', cạnh phải '值錢二…捌陌'; tồn tại hai biến thể kích thước, nặng khoảng 37,5–38,3 g. Năm 1815 (Gia Long 14) xuất hiện 'Ngân phiến ngũ tiền': mỗi phiến nặng 5 đồng cân, trị giá 1 quan 4 tiền; mặt trước dọc '嘉隆年造', mặt sau trên ngang '中平', dưới dọc '銀片五錢'; có gờ viền; nặng 19,2 g. Năm 1803 (Gia Long 2) đúc thoi 10 lạng: hai mặt trơn nhưng mang 10 dấu kiểm, một đầu '中平', đầu kia '公甲', nặng 350 g, giá trị ngang 28 quan. Sử liệu cho thấy triều đình ban quy định khắc chữ và dấu 'Trung bình' để kiểm soát chất lượng (bạc pha đồng), đồng thời phát hành Gia Long thông bảo và thống nhất tỉ lệ hợp kim, góp phần chấn chỉnh hệ thống tiền tệ toàn quốc.

Tiền triều Nguyễn (1802 - 1945) Kỳ II - Tiền đời vua Nguyễn Thế Tổ (1802 - 1819)

Tháng 5 năm Nhâm Tuất (1802), Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi vua, đặt niên hiệu Gia Long (1802-1819), miếu hiệu khi mất là Thế Tổ. Năm 1803, nhà vua cho đúc tiền đồng Gia Long thông bảo. Sách Đại Nam thực lục chép: 'Quý Hợi, năm Gia Long thứ 2 [1803]…

Ngôi trường cổ thay đổi thế giới

So với Đại học Oxford lâu đời nhất nước Anh, Đại học Nalanda (Ấn Độ) còn có trước 500 năm.

Tiền triều Nguyễn (1802 - 1945) Kỳ I

Năm Nhâm Tuất (1802), Nguyễn Phúc Ánh thiết lập triều Nguyễn, đến năm 1804, lấy quốc hiệu là Việt Nam. Năm Mậu Tuất (1839), vua Minh Mệnh cho đổi quốc hiệu là Đại Nam. Triều Nguyễn tồn tại từ năm 1802 đến năm 1945, kéo dài 144 năm. Trong suốt thời gian họ Nguyễn nắm chính quyền, có thể chia làm hai giai đoạn...

Phường Tùng Thiện: Nhiều hoạt động kỷ niệm Quốc khánh 2-9

Ngày 30-8, Hội Liên hiệp phụ nữ phường Tùng Thiện tổ chức đồng diễn dân vũ với sự tham gia của 380 hội viên đến từ 35 chi hội phụ nữ trên địa bàn phường. Đây là hoạt động chào mừng kỷ niệm 80 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945-2/9/2025).

Giới thiệu bài văn chuông chùa Trăm Gian

Qua bài văn chuông cho biết Quảng Nghiêm tức chùa trên núi Tiên Lữ, chùa vì có tiếng chuông mà còn mãi đến nay. Quan Đô đốc Đông Lĩnh hầu và bà Nội tần Mậu Chiêu cùng với mọi người thập phương công đức để đúc quả chuông này.

Tiền triều Lê Trung Hưng (1533 - 1789) - Kỳ V: Tiền đời vua Lê Hiển Tông (1740 - 1786)

Những đồng tiền Cảnh Hưng này, lưng tiền đều có ký hiệu hình chấm sao (một chấm hoặc hai chấm), hình dấu nhân (x) hoặc hoa văn hình vành trăng không cố định...

Tiền triều Lê Trung Hưng (1533 - 1789) - Kỳ IV: Tiền đời vua Lê Hiển Tông (1740 - 1786)

Năm 1740, chúa Trịnh Doanh lập con trai vua Lê Thuần Tông là Lê Duy Diêu lên ngôi (tức vua Lê Hiển Tông), đặt niên hiệu là Cảnh Hưng. Lê Hiển Tông là ông vua ở ngôi lâu nhất trong lịch sử phong kiến nước ta...

Tiền triều Lê Trung Hưng (1533 - 1789) - Kỳ III - Tiền đời vua Lê Hy Tông (1675 - 1705) và Tiền đời vua Lê Dụ Tông (1705 - 1729)

Từ năm 1663 đến năm 1674, trải qua các đời vua Lê Huyền Tông - Duy Vũ, với niên hiệu Cảnh Trị (1663 - 1671) và Lê Gia Tông - Duy Hội...

Tiền triều Lê Trung Hưng (1533 - 1789) - Kỳ II - Tiền đời vua Lê Thế Tông (1573 - 1599)

Năm 1573, chúa Trịnh Tùng sai người giết vua Lê Anh Tông, lập Thái tử Lê Duy Đàm (con thứ 5 của vua Lê Anh Tông) lên làm vua, tức Lê Thế Tông...

Du lịch di sản Hoàng tộc Chăm

Trải qua 4 thế kỷ tồn tại, Bộ sưu tập di sản Hoàng tộc Chăm ở xã Hồng Thái, tỉnh Lâm Đồng với những hiện vật gốc độc bản có giá trị lớn về văn hóa, lịch sử. Bộ sưu tập này đang được đưa vào phục vụ du lịch dưới dạng Kho mở, trở thành điểm đến hấp dẫn trong hành trình khám phá di sản văn hóa Chăm.

Đền thờ Phúc Khê tướng công Nguyễn Văn Nghi

Đền thờ Phúc Khê tướng công Nguyễn Văn Nghi (phường Đông Tiến) là di tích lịch sử cấp quốc gia. Đền được xây dựng vào năm 1617, với lối kiến trúc như một kinh đô thu nhỏ, bao quanh bởi hai vòng thành khép kín, thành ngoài bằng đất, thành trong bằng đá tương tự Thành Nhà Hồ.

Xếp hạng di tích, khơi dậy niềm tự hào văn hóa, con người Hà Tĩnh

Thời gian qua, nhiều di tích lịch sử - văn hóa ở Hà Tĩnh được xếp hạng các cấp đã góp phần 'đánh thức' ký ức dòng tộc, làng xã, thắp lên niềm tự hào cội nguồn trong mỗi người dân.

Tiền triều Lê Trung Hưng (1533 - 1789) - Kỳ I - Tiền đời vua Lê Trang Tông (1533 - 1548)

Nhà Mạc thay thế nhà Lê, quản lý vùng đất Bắc gọi là Bắc Triều. Con cháu nhà Lê dạt vào Thanh Hóa. Họ Trịnh dựng con cháu nhà Lê, lập lại một vương triều khác, lịch sử gọi là triều Lê Trung Hưng, quản lý vùng đất phía nam, gọi là Nam Triều...

Giải mã bức tượng Phật ngồi trên lưng vua độc nhất vô nhị ở Hà Nội

Bức tượng 'Vua sám hối' - mô tả đức Phật ngồi trên lưng vua Lê Hy Tông - chỉ có bản duy nhất ở chùa Hòe Nhai (Hà Nội), vì sao lại có cảnh tượng này?

Tiền triều Mạc (1527 - 1592) - Kỳ III: Tiền đời vua Mạc Tuyên Tông (1547 - 1564)

Năm 1546, Mạc Phúc Hải mất, con trai trưởng là Mạc Phúc Nguyên kế thừa ngai vàng (tức vua Mạc Tuyên Tông). Mạc Phúc Nguyên ở ngôi 17 năm...

Tiền triều Mạc (1527 - 1592) - Kỳ II: Tiền đời vua Mạc Thái Tông (1530 - 1540) và Mạc Hiến Tông (1541 - 1546)

Năm 1530, Mạc Đăng Doanh được truyền ngôi vua, đổi niên hiệu là Đại Chính...

Tiền triều Mạc (1527 - 1592) - Kỳ I: Tiền đời vua Mạc Thái Tổ (1527 - 1529)

Từ năm 1522, thế lực nhà Lê ngày càng suy yếu. Năm 1527, nhận thấy sự bất lực của nhà Lê, Mạc Đăng Dung bức vua Lê phải nhường ngôi, lập ra nhà Mạc, vẫn dùng quốc hiệu là Đại Việt, vẫn lấy Thăng Long - Đông Kinh làm Kinh đô. Nhà Mạc từ đời Mạc Đăng Dung đến Mạc Mậu Hợp, truyền ngôi được 5 đời, tổng cộng 65 năm...

Tiền triều Lê sơ (1428 - 1527) - Kỳ IX: Tiền đời vua Lê Chiêu Tông (1516 - 1522)

Vua Lê Tương Dực cuối đời lao vào con đường ăn chơi trụy lạc, làm cho đời sống nhân dân lầm than. Tháng 4 năm Bính Tý (1516), quan đại thần Trịnh Duy Sản cùng một số quần thần vào cung giết vua Lê Tương Dực, đưa Lê Ỷ lên ngôi (tức vua Lê Chiêu Tông)...

Vua Charles III 'cảnh giác' với nỗ lực hòa giải của Harry

Harry gần đây cử trợ lý đến London để gặp thư ký truyền thông của Vua Charles III, nhằm hàn gắn mối quan hệ rạn nứt với Hoàng gia Anh.

Tiền triều Lê sơ (1428 - 1527) - Kỳ VII: Tiền đời vua Lê Uy Mục (1505 - 1509)

Khi vua Lê Hiến Tông qua đời, người con trai thứ ba là Lê Thuần (tức vua Lê Túc Tông) nối ngôi, đặt niên hiệu là Thái Trinh (1504). Nửa năm sau, vua Lê Túc Tông qua đời, em là Lê Tuấn nối ngôi, đặt niên hiệu là Đoan Khánh (1505 - 1509), sử cũ gọi Uy Mục Đế...

Tiền triều Lê sơ (1428 - 1527) - Kỳ VI: Tiền đời vua Lê Hiến Tông (1498 - 1504)

Năm 1497, vua Lê Thánh Tông băng hà, con trai trưởng là Lê Tăng (tức vua Lê Hiến Tông) nối ngôi, đặt niên hiệu là Cảnh Thống (1498 - 1504) và đúc tiền Cảnh Thống thông bảo...

Đến đảo ngọc Phú Quốc viếng chùa Hộ Quốc

Chùa Hộ Quốc Phú Quốc là Thiền viện Trúc Lâm có không gian yên tĩnh và là nơi hội tụ của 'đại danh thắng' trên đảo ngọc, thu hút rất nhiều du khách trong và ngoài nước đến tham quan.

Tiền triều Lê sơ (1428 - 1527) - Kỳ V: Tiền đời vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497)

Là vị vua nổi tiếng minh triết, vua Lê Thánh Tông rất coi trọng tác dụng của tiền tệ trong xã hội và cấm kén tiền. Sách Đại Việt sử ký toàn thư có ghi...

Tiền triều Lê sơ (1428 - 1527) - Kỳ IV: Tiền đời vua Lê Nghi Dân (1459 - 1460)

Diên Ninh năm thứ 6 (1459), anh trai của vua Lê Nhân Tông là Lê Nghi Dân đem hơn 100 người vào cung cấm, giết chết Lê Nhân Tông, Hoàng Thái Hậu và một số đại thần...

Tiền triều Lê sơ (1428 - 1527) - Kỳ III: Tiền đời vua Lê Nhân Tông (1443 - 1459)

Năm 1442, vua Lê Thái Tông mất khi mới 20 tuổi. Hoàng tử Bang Cơ nối ngôi (tức vua Lê Nhân Tông). Nhà vua ở ngôi 17 năm...

Tiền triều Lê sơ (1428 - 1527) - Kỳ II: Tiền đời vua Lê Thái Tông (1434 - 1442)

Năm 1433, vua Lê Thái Tổ mất, con thứ của vua là Thái tử Lê Nguyên Long nối ngôi (tức vua Lê Thái Tông), đổi niên hiệu là Thiệu Bình (1434 - 1439). Khi lên ngôi, nhà vua mới 11 tuổi nhưng nổi tiếng là vị vua có tư chất thông minh.

Tiền triều Lê sơ (1428 - 1527) - Kỳ I: Tiền đời vua Lê Thái Tổ (1428 - 1433)

Triều Lê sơ gồm 10 đời vua, trong đó Lê Thái Tổ là người sáng lập và Lê Thánh Tông là người đưa vương triều Lê đến giai đoạn phát triển thịnh trị nhất...