Suối nguồn Tây Nguyên

Từ xa xưa, những ngọn núi, cánh rừng thiêng đã giúp đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên có nguồn nước dồi dào cho sinh hoạt hàng ngày, dẫn nước về đồng ruộng để trồng lúa, chăn nuôi gia súc, đảm bảo cái ăn cái mặc và sáng tạo nên các giá trị văn hóa, tinh thần mang đậm bản sắc. Bởi vậy, nước không chỉ là nguồn sống mà còn là mạch nguồn văn hóa của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên.

Giọt nước làng Ia Nueng (xã Biển Hồ, TP. Pleiku). Ảnh: Trần Dung

Giọt nước làng Ia Nueng (xã Biển Hồ, TP. Pleiku). Ảnh: Trần Dung

Một số tộc người ở Bắc Tây Nguyên từ rất lâu đời đã tích lũy nhiều kinh nghiệm trong việc làm ruộng bậc thang. Để làm ruộng bậc thang, bà con thường chọn những sườn núi có độ dốc vừa phải, không có nhiều hốc đá và đặc biệt là gần khe suối để dẫn nước về ruộng. Nếu canh tác nương rẫy thì đòi hỏi “mưa thuận gió hòa” làm ruộng bậc thang chỉ cần có đủ nước là có thể duy trì mùa màng. Nước từ các khe suối trên núi Ngọc Linh theo các ống tre hay các đường mương được đồng bào dẫn vào thửa ruộng cao nhất và từ đó phân bố đều cho các thửa ruộng phía dưới.

Đến các buôn làng, ta thường thấy những thửa ruộng bậc thang xếp từ chân núi lên đến các sườn núi. Ruộng bậc thang chẳng những mang lại cho đồng bào lúa gạo đủ ăn quanh năm, tự túc được lương thực mà còn vẽ nên một bức tranh đa sắc vừa kỳ vĩ vừa thơ mộng. Đó là những bức tranh tuyệt tác mà tự bản thân nó đã ca ngợi bàn tay lao động của con người, khi biết dựa vào thiên nhiên, hòa mình với thiên nhiên, duy trì cuộc sống ở những nơi thâm sơn cùng cốc.

Đối với đồng bào Tây Nguyên, rừng và nước đầu nguồn là tiêu chí hàng đầu để bà con lựa chọn địa điểm lập làng. Người Jrai cho rằng, có một vị thần đã tạo ra nguồn nước, đó là thần nước, gọi là Yang Ia. Đồng bào chọn một nơi có mạch nước chảy từ vùng núi xuống để lắp máng nước bằng tre (gọi là “Ia Nang”) để người dân tiện lấy nước sử dụng.

Mỗi làng đều có nguồn nước sạch để dùng chung. Đặc biệt, nguồn nước uống phải đảm bảo sự trong lành, phải là nước sạch từ mạch chảy của các khe suối. Hệ thống ống nứa, thân cây đùng đình giúp bà con dẫn nước từ đầu nguồn về các thửa ruộng bậc thang, vườn, rẫy...

Dòng nước trong mát tuôn chảy suốt ngày mang lại nguồn sống cho dân làng. Hàng ngày, bà con mang quả bầu lấy nước về nấu ăn, uống. Trẻ con đến đây vui chơi, đùa nghịch và cùng nhau tắm táp thỏa thích dưới làn nước mát.

Nước gắn với đời sống tâm linh, lễ hội truyền thống của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Tất cả sinh hoạt của người dân đều gắn liền với khe suối và gắn liền với những kiêng kỵ, nghi lễ quan trọng đối với nước. Lễ hội quan trọng trong năm là lễ cúng bến nước, người Jrai gọi là ngă yang pên ia. Lễ hội này thường diễn ra sau mùa thu hoạch lúa rẫy và bắt đầu vào vụ mùa mới.

Khởi đầu năm mới, bà con tập trung sửa chữa máng nước cũ hoặc bắc máng nước mới, gia cố hệ thống giá đỡ đường ống máng nước để đưa nước về làng. Người làng đi tìm những tảng đá to hay những tấm gỗ dày về lót làm nền vững chắc phía dưới máng để nước từ ống không xối trực tiếp xuống đất tạo vũng bùn lầy lội, dơ bẩn. Những tảng đá xám vừa thuận tiện cho người đi lấy nước vừa tạo cảnh quan đẹp vì nơi này hàng ngày dân làng thường gặp gỡ nhau.

Trước ngày tổ chức lễ, dân làng chia nhau đi kiếm cá, hái rau. Chủ làng cúng các thần linh cầu mong mưa thuận gió hòa, nương rẫy bội thu, cầu phúc cho các nóc nhà.

Nước cũng là mạch nguồn sáng tạo văn hóa nghệ thuật truyền thống tộc người. Rất nhiều truyền thuyết, truyện cổ, lời nói vần, luật tục... của các dân tộc có liên quan đến suối nguồn. Như các dân tộc khác, luật tục (tập quán pháp) của đồng bào đều có một số điều quy ước các thành viên trong làng không được xâm hại rừng đầu nguồn, giữ gìn nước sạch để sinh hoạt, không được xúc phạm đến thần sông, thần suối.

Một sáng tạo văn hóa đặc sắc của đồng bào Xơ Đăng là đàn nước (hay còn gọi là đàn suối). Vật liệu chế tác đàn nước là nứa, lồ ô và các loại thân dây leo trong rừng như song mây. Đây là nhạc cụ kết hợp nhiều bộ phận, nhờ kỹ thuật lắp ráp trở thành “dàn nhạc”.

Nguyên tắc chuyển động của đàn nước là “tự động hóa” nhờ vào sức nước, không có sự tác động trực tiếp của con người. Nhờ sự chuyển động mà các thanh tre nứa va chạm vào nhau tạo âm thanh, nhạc điệu. Âm thanh của tiếng đàn nước lại có tác dụng xua đuổi thú rừng phá hoại hoa màu đang chờ thu hoạch, người nghe vui tai càng thêm niềm hứng thú, bớt mệt nhọc khi lao động trên nương rẫy.

Nước là nguồn sống cũng là mạch nguồn văn hóa của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Những ngọn núi, cánh rừng thiêng cũng là nơi bắt nguồn dòng sông chảy về vùng hạ lưu tưới mát cho đồng lúa nương dâu trước khi hòa vào lòng đại dương.

TẤN VỊNH

Nguồn Gia Lai: http://baogialai.com.vn/channel/742/202011/suoi-nguon-tay-nguyen-5707595/