Nỗi niềm giáo viên 'cắm bản'
ĐBP - Chất lượng giáo dục miền núi không ngừng được tăng lên, tỷ lệ phổ cập giáo dục ngày càng cao; nhiều học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu số đạt giải cao trong các cuộc thi sáng tạo, kì thi học sinh giỏi quốc gia. Có được những thành tựu đó, không thể không nhắc đến sự đóng góp to lớn, thầm lặng của đội ngũ các thầy, cô giáo 'cắm bản'. Vượt qua mọi khó khăn với lòng yêu nghề, các thầy, cô giáo đã hi sinh hạnh phúc riêng; trèo đèo, lội suối, bám bản, bám lớp miệt mài gắn bó với công việc 'gieo chữ' vùng cao. Góp phần ươm những mầm xanh cho quê hương, đất nước.

Giờ lên lớp của thầy và trò Điểm trường tiểu học Pa Soan 2, Trường PTDTBT Tiểu học Huổi Mí (huyện Mường Chà).
Từ trung tâm xã Huổi Mí (huyện Mường Chà) sau gần 2 giờ đi xe máy trên con đường độc đạo như những sợi chỉ hờ vắt ngang lưng núi, với một bên là vực sâu thăm thẳm tôi đã có mặt tại Điểm trường tiểu học Pa Soan 2, Trường PTDTBT Tiểu học Huổi Mí. Đúng vào giờ ra chơi nên tiếng cười nói, nô đùa của học sinh đã làm vui nhộn cả sân trường giữa bốn bề rừng núi. Nhìn cơ sở vật chất thiếu thốn mới thấu hiểu được tấm lòng nhiệt huyết với con chữ của cả thầy và trò ở vùng cao nơi đây. Thầy giáo Hồ A Tàng người có thâm niên trên 5 năm đứng lớp ở các điểm bản cho biết: Điểm trường Pa Soan 2, là điểm trường xa xôi và khó khăn nhất trong các điểm trường với nhiều cái không nhất. Không đường ô tô, không điện, không nước; sóng điện thoại lúc có lúc không, nhiều lúc muốn gọi về điểm trường trung tâm tôi phải đi lên đồi “hứng sóng”, còn bình thường phải treo điện thoại lên cột tre ở trước cửa lớp để khi có tin nhắn hay cuộc gọi đến còn biết. Điểm trường Pa Soan 2 hiện có 1 lớp ghép 1, 2 với 12 học sinh (6 học sinh lớp 1; 6 học sinh lớp 2). 100% học sinh ở đây là con em đồng bào dân tộc Mông cuộc sống còn nhiều khó khăn, hộ nghèo chiếm đa số. Địa bàn dân cư thưa thớt, rất khó khăn trong công tác dạy và học. Hàng ngày ngoài công việc chuyên môn đứng lớp tôi còn chăm lo bữa ăn, giấc ngủ trưa cho học sinh. Nên sau những giờ dạy trên lớp, tận dụng diện tích đất ít ỏi trong khuôn viên của điểm trường để trồng rau cải thiện bữa ăn hàng ngày cho thầy và trò. Thông thường thời tiết nắng ráo thì cuối buổi chiều thứ 6 tôi về nhà thăm gia đình, chiều chủ nhật lại tay xách nách mang, với đủ thứ nhu yếu phẩm (rau xanh, lạc, cá khô, trứng…) để chuẩn bị cho một tuần công tác mới. Vào mùa mưa đường về nhà xa hơn, vất vả hơn vì lầy lội. Phải cuốc bộ hàng chục cây số đường rừng nên có khi 2 tháng mới được về thăm nhà một lần.
Có thâm niên “cắm bản” với trên 10 năm công tác, cô giáo Khoàng Thị Thu, giáo viên Điểm trường San Súi, Trường Mầm non Hừa Ngài (huyện Mường Chà) chia sẻ: Sinh ra và lớn lên ở huyện Điện Biên, sau khi ra trường, tôi xung phong lên vùng cao để dạy học, vượt khó khăn lên đây bám bản đã mười năm có lẻ; vui có, buồn có, nhọc nhằn vất vả cũng có. Điều khiến tôi vẫn gắn bó với học sinh vùng cao đến giờ này chính là tình yêu thương đối với trẻ. Học sinh ở đây, 100% là con em đồng bào dân tộc Mông, ít được giao tiếp với bên ngoài, nên vốn tiếng phổ thông còn hạn chế. Giáo viên chúng tôi phải cố gắng học thêm tiếng của đồng bào địa phương để có thể truyền đạt kiến thức đến các em một cách hiệu quả nhất. Hơn 10 năm gắn bó với vùng cao, tuy không nhiều nhưng tôi đã chứng kiến không ít những câu chuyện rơi nước mắt của học trò nghèo vùng cao. Trẻ ở đây đến trường rất khó khăn, phải đi bộ 4 - 5km đường mòn. Mùa đông giá rét, có những em chỉ có 1 cái áo sơ mi mặc cả tuần vừa ngồi trong lớp vừa run. Tôi nhớ có lần đi vận động học sinh ra lớp, một số em không ở nhà mà theo bố mẹ lên nương vì bố mẹ đi làm tối nghỉ luôn ở lán. Đến lán nương nhìn thấy các em mặc phong phanh mỗi chiếc áo, da tím tái vì lạnh, đi chân đất, đầu tóc rối bời; bữa cơm trưa chỉ có cơm trắng với một ít muối, một chai nước uống dùng để chan cơm. Nhìn học trò của mình như vậy tôi đã rơi nước mắt. Khó khăn là vậy nên mỗi khi về thăm nhà, giáo viên chúng tôi đều vận động và quyên góp những bộ quần áo đã qua sử dụng nhưng vẫn còn lành, đem giặt sạch sẽ để mang lên cho các em, với hi vọng phần nào chia sẻ được những khó khăn, thiếu thốn…
Còn rất nhiều câu chuyện cảm động về các thầy cô giáo đang ngày đêm gắn bó với các em học sinh nơi vùng sâu, vùng xa. Khó có từ ngữ nào diễn tả hết được những hi sinh thầm lặng của họ. Sự nghiệp “trồng người” ở vùng sâu, vùng xa thật quá gian nan. Giữa bốn bề núi, rừng cuộc sống của những giáo viên “cắm bản” thiếu thốn trăm bề. Thấu hiểu những khắc nghiệt của vùng cao, các thầy cô giáo càng yêu nghề, yêu trẻ hơn. Sự nghiệp “trồng người” vùng cao thành công là nhờ nghị lực và tâm huyết của những thầy, cô giáo “cắm bản” nơi đây.











