Nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt
Năm 1979, sau chuyến công tác lên mặt trận biên giới phía Bắc, nhà thơ Dương Soái, khi đó là phóng viên của Đài Phát thanh Hoàng Liên Sơn đã sáng tác bài thơ 'Gửi em ở cuối sông Hồng'. Năm 1980, tức là đúng 1 năm sau, nhạc sĩ Thuận Yến đã phổ nhạc và ca khúc này lập tức nổi tiếng và đi cùng năm tháng cho đến tận bây giờ. Năm 2026, gần nửa thế kỷ đã trôi qua, lời thơ đi vào câu hát 'Anh ở biên cương, nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt' đã đưa tôi đến với miền đất ấy - đó là xã A Mú Sung, tỉnh Lào Cai - đó cũng chính là nơi dòng suối Lũng Pô xanh ngọc, hòa với màu đỏ phù sa của sông Hồng, nơi có cột cờ Lũng Pô kiêu hãnh tung bay trong gió, nơi có một con số huyền thoại '92' - cột mốc chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Và giữa điệp rừng trùng núi ấy, Đồn Biên phòng A Mú Sung sừng sững như một điểm tựa vững chắc nơi phên dậu Tổ quốc. Với mỗi cán bộ, chiến sĩ nơi đây, bảo vệ biên giới không chỉ là giữ từng tấc đất, đường biên, cột mốc, mà còn là hành trình đồng hành cùng dân bản vượt qua đói nghèo, lạc hậu, gieo con chữ, nuôi mầm tương lai.

Công trình cột cờ Lũng Pô
Lớp học của những thầy giáo mang quân hàm xanh
Đồn Biên phòng A Mú Sung nằm cách trung tâm thành phố Lào Cai gần 60km về phía Tây Bắc, được giao quản lý tuyến biên giới dài 26,762km với 4 cột mốc chủ quyền, trong đó có cột mốc 92 - nơi ghi dấu điểm khởi đầu của dòng sông Hồng chảy vào đất Việt.
Ở nơi phên dậu đó, Đồn Biên phòng A Mú Sung là một trong những điểm chốt đặc biệt quan trọng trên tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc, nơi những người lính mang quân hàm xanh ngày đêm bám trụ, giữ gìn từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc.
Với 14 thôn bản, 8 dân tộc anh em, A Mú Sung là địa bàn vùng cao biên giới đặc biệt khó khăn, dân cư thưa thớt, chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống. Cuộc sống của người dân phụ thuộc gần như hoàn toàn vào nương rẫy, manh mún canh tác, tự cung tự cấp. Không ít hộ quanh năm "bán lưng cho đất, bán mặt cho trời", nương theo thời tiết mà sống nhưng cái nghèo vẫn đeo bám. Thực tế ấy khiến cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng A Mú Sung trăn trở, muốn biên giới bình yên, dân phải no ấm; muốn dân tin, bộ đội phải gần dân. Và rồi, phương châm “3 bám, 4 cùng” đã được cụ thể hóa bằng những việc làm kiên trì, bền bỉ suốt nhiều năm qua...

Cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng A Mú Sung kiểm tra hiện trạng cột mốc biên giới
Vùng đất A Mú Sung quanh năm sương giăng phủ lối. Ở nơi làng bản heo hút đó, con trẻ được đến trường đã là cả một sự cố gắng lớn lao của mỗi gia đình. Còn người lớn, gánh nặng mưu sinh đôi khi cứ ghì con người ta xuống. Vòng tròn đói nghèo, lạc hậu vì thế cứ mãi quẩn quanh. Thế nhưng, cũng ở nơi đó, những thầy giáo mang quân hàm xanh đã thắp lên những ánh sáng cho hành trình học chữ của người dân trên mảnh đất này.
Trò chuyện với tôi, Trung tá Đinh Thái Đạt kể, năm 2000, anh tốt nghiệp ra trường, nhận nhiệm vụ tại Đội vận động quần chúng của Đồn Biên phòng Mường Khương (Lào Cai). Cũng bắt đầu từ đó, chàng lính biên phòng trẻ tuổi chính thức bén duyên với “nghiệp” làm thầy. Từ năm 2022, anh được điều động về Đội vận động quận chúng của Đồn Biên phòng A Mú Sung.
Kể về hành trình suốt bao năm lên non dạy chữ cho dân bản, Trung tá Đinh Thái Đạt nói cứ “nhẹ như không” nhưng tôi biết đó thực sự là chuỗi những thử thách, nếu không kiên gan, bền chí, vững lòng thì khó có thể duy trì được cho tới ngày hôm nay. Bởi lẽ, với các lớp “xóa mù chữ” hay “xóa tái mù” với các học viên tuổi từ 18-60, ngoài việc dạy còn phải vận động học viên đến lớp. Đôi khi, việc vận động còn khó hơn cả việc soạn giáo án lên lớp. Trung tá Đinh Thái Đạt cười gật đúng vậy, việc dạy học mà không có chuyên môn sư phạm là khó rồi, nhưng công tác vận động còn khó hơn. Thế rồi để lớp học với vài chục học viên tham dự có thể sáng đèn mỗi tối, thầy giáo Đinh Thái Đạt và các thành viên của Đội vận động quần chúng Đồn Biên phòng A Mú Sung phải chuẩn bị từ trước đó rất lâu. Đầu tiên là phải phối hợp với chính quyền địa phương, những người có uy tín trong bản lên danh sách, rồi thì đến từng nhà gặp gỡ, trò chuyện, phân tích lý lẽ thiệt hơn trong việc biết chữ, biết đọc, biết ký tên của mình, biết nhắn tin và sử dụng điện thoại thì sẽ có lợi ích ra sao…
Trung tá Đinh Thái Đạt nhớ lại, hồi mới bắt tay vào việc, do chưa có kinh nghiệm và chủ quan, cứ đến nhà dân vào ban ngày gần như chẳng có ai, người dân đi làm nương tối mới về. Thế là, buộc phải đi vào lúc chiều tối. Nhưng có đi vào lúc chiều tối, gặp dân ở nhà đấy, nhưng trò chuyện thì chẳng được bao lâu. Bởi lẽ, buổi chiều cũng là lúc bếp trong mỗi nhà dân bắt đầu đỏ lửa, ở trên nương cả ngày, chiều về cũng là lúc lo cơm nước, rồi rau cỏ cho con lợn, con gà… 8-9 giờ tối, cơm nước xong xuôi thì cũng thì vừa hay đến giờ… đi ngủ. Cả ngày quần quật trên nương cũng đã mệt lắm rồi, làm gì còn thời gian mà nghĩ đến việc đi học. Thế là, không chờ dân phải xong việc, cán bộ cứ xắn tay vào mà làm cùng. Dân cần làm việc gì thì giúp, từ nấu cơm, nhặt rau đến cho lợn ăn, cán bộ vừa làm vừa hướng dẫn bà con sắp xếp thời gian khoa học, hợp lý. Rồi cứ thế, ngày nọ sang ngày kia, người dân trong bản quen dần với sự xuất hiện của cán bộ biên phòng. Chính sự chân thành và kiên trì của cán bộ, chiến sĩ đồn biên phòng đã thuyết phục được bà con.
Theo Trung tá Đinh Thái Đạt, có đi tìm hiểu và “3 bám” với nhân dân mới thấy, “mỗi cây mỗi hoa mỗi nhà mỗi cảnh”, chính vì thế từng hộ gia đình, từng con người cụ thể, mỗi người một cách vận động đến lớp khác nhau. Lại cũng không phải cứ vận động được người dân đến lớp mà đã chắc. Qua mỗi đợt nghỉ Tết hay trong bản có lễ, có hội là sĩ số lớp lại vơi đi. Thế là thầy giáo lại phải đến từng nhà, tìm hiểu lý do. Hễ dân có khó khăn gì là kịp thời giúp đỡ, để đích đến cuối cùng là dân không quên mặt chữ và lại tiếp tục đến lớp.
Đó là chuyện vận động đến lớp. Chuyện dạy và học cũng phải rất linh hoạt. Dù từng có kinh nghiệm vận động quần chúng, nhưng đứng lớp lại là sứ mệnh hoàn toàn khác, nghiệp vụ sư phạm thế nào, khả năng truyền đạt ra sao?... Cùng với đó là đầy rẫy những trăn trở: Dạy sao cho dễ hiểu? Làm thế nào để bà con không ngại viết? Phải bắt đầu từ đâu với những học viên chưa từng biết mặt chữ?... Không thể áp nguyên kiến thức trong sách giáo khoa ra được, vì nhiều khi ví dụ trong sách nó vừa xa lạ, vừa mơ hồ.
Từ những trăn trở ấy, Trung tá Đinh Thái Đạt tự mày mò tài liệu, học phương pháp giảng dạy của các giáo viên Tiểu học trên địa bàn, linh hoạt điều chỉnh sao cho phù hợp với người lớn tuổi. Anh áp dụng triệt để “4 cùng”, dùng chính tiếng dân tộc để giải thích cho gần gũi và dễ tiếp thu. Ví dụ, cộng trừ thì cứ lôi ví dụ con gà, con lợn trong chuồng ra mà làm phép tính. Dạy đến nhân chia thì cứ lấy ví dụ về sản lượng của mấy nương thảo quả.
Không chỉ đơn thuần là dạy chữ hay những phép tính đơn giản, ngày thường sử dụng, các thầy giáo mang quân hàm xanh ngoài việc dạy theo cách truyền thống, bây giờ còn thêm hướng dẫn sử dụng điện thoại thông minh, dạy cộng - trừ - nhân - chia ngay trong điện thoại, thường xuyên lồng ghép những nội dung để tuyên truyền vận động học viên chấp hành đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, cùng bộ đội biên phòng giữ gìn đường biên, mốc giới, bảo vệ vững chắc chủ, quyền an ninh biên giới quốc gia trên địa bàn.

Thầy giáo - Trung tá Đinh Thái Đạt, Đồn Biên phòng A Mú Sung trong giờ lên lớp
Từ năm 2023 đến nay, được sự phân công và chỉ đạo của Đảng ủy, Ban chỉ huy đơn vị giao nhiệm vụ, Trung tá Đinh Thái Đạt đã phối hợp cùng trường Bán trú Tiểu học và Trung học cơ sở xã Nậm Chạc mở lớp xóa mù chữ cho nhân dân trên địa bàn xã. Cùng với đó, anh đã tham mưu và giúp Trung tâm giáo dục cộng đồng xã Nậm Chạc mở 2 lớp học (1 lớp xóa mù chữ, 1 lớp sau biết chữ) thời gian 14 tháng và trực tiếp đứng lớp dạy học với tổng số 2 lớp với 43 học viên tại thôn Nậm Giang 2, xã Nậm Chạc, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai (nay là xã A Mú Sung, tỉnh Lào Cai). Năm 2024, anh đã trực tiếp đứng lớp giảng dạy cho học viên là bà con nhân dân trong xã Nậm Chạc với 1 lớp học sau biết chữ tại thôn Cửa Suối gồm 15 học viên, thời gian 9 tháng.
Sinh năm 1978, trong suốt hơn 25 năm công tác, Trung tá Đinh Thái Đạt từng được điều động đến nhiều đồn biên phòng trên địa bàn tỉnh Lào Cai. Quá trình công tác cũng là quá trình “4 cùng” với đồng bào - “cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng dân tộc”. Cũng vì lẽ đó, anh thấu hiểu sâu sắc những khó khăn, thiếu thốn và thiệt thòi của bà con nơi biên giới: nghèo đói, đường sá cách trở, trình độ dân trí hạn chế và tâm lý e dè khi tiếp xúc với cán bộ. Nhờ những lớp học, bà con dần thay đổi nhận thức và hiểu rằng học chữ không chỉ để đọc - viết, mà để mở ra cánh cửa mới, tiếp cận thông tin, phát triển kinh tế gia đình, hòa nhập với đời sống hiện đại và chung tay giữ gìn biên cương Tổ quốc.
Câu chuyện của thầy giáo mang quân hàm xanh - Trung tá Đinh Thái Đạt, Đồn Biên phòng A Mú Sung và hành trình gieo con chữ đến với bản làng “nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt” không ồn ào mà âm thầm, bền bỉ như một dòng suối nhỏ, lặng lẽ trôi như dải bạc giữa đất phủ lối, trời giăng sương.

Đội tuần tra Đồn Biên phòng A Mú Sung thực hiện nghi thức chào cột mốc 92 - nơi ghi dấu điểm khởi đầu của dòng sông Hồng chảy vào đất Việt
Ươm mầm xanh trên non
Chuyện ở Đồn Biên phòng A Mú Sung được viết tiếp qua những chương trình “Nâng bước em tới trường”, “Cán bộ chiến sĩ quân đội nâng bước em tới trường” và đặc biệt là “Con nuôi đồn biên phòng” với 8 cháu được hỗ trợ và đỡ đầu.
Phu Xá Hờ và Chảo A Tình là hai học sinh lớp 8 và lớp 9 của trường Tiểu học và Trung học cơ sở Nậm Chạc hiện đang được cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng A Mú Sung nhận nuôi từ năm 2024 trong chương trình “Con nuôi đồn biên phòng”.
Rụt rè khi gặp người lạ, Chảo A Tình có dáng người nhỏ bé, nhanh nhẹn nhưng đôi mắt thì sáng. Bố của Chảo A Tình đã mất từ lâu, mẹ thì đi làm ở xa lắm, lâu lâu em mới được gặp. Phía trên Tình còn có chị gái và anh trai nhưng chị thì đã đi lấy chồng ở xa còn anh trai thì cũng đã bỏ học để đi làm. Ở nhà chỉ có em và bà nội già yếu nương tựa nhau mà sống. Rồi em được các chú bộ đội ở đồn biên phòng nhận nuôi, học hành, ăn - ở - áo - quần… đều được các chú bộ đội chăm lo đủ đầy. May mắn hơn Chảo A Tình, Phu Xá Hờ có một gia đình đầy đủ cả bố lẫn mẹ, nhưng nhà em nghèo lắm! Bố mẹ em quanh năm làm lụng chẳng hề có ngày nghỉ mà gia đình vẫn chỉ bữa đói bữa no qua ngày.
Chính hoàn cảnh đó khiến cậu bé Phu Xá Hờ lại có thêm những động lực để cố gắng vươn lên trong học tập. Suốt từ năm lớp 1 đến lớp 6, Hờ luôn đạt danh hiệu học sinh giỏi. Bắt đầu từ năm 2024, Hờ trở thành con nuôi đồn biên phòng. Em bảo, đó thực sự là giấc mơ, nhờ thế mà con đường đến trường của em sẽ không bị đứt đoạn. Khi tôi hỏi về ước mơ của em sau này, Phu Xá Hờ tự tin, dõng dạc bảo, em mong muốn trở thành bộ đội biên phòng để có thể bước tiếp con đường của các chú ở đồn A Mú Sung - những người em rất mực kính trọng và yêu quý.
Trung tá Bùi Trung Thành kể, Chảo A Tình và Phu Xá Hờ học bán trú tại trường từ thứ hai đến thứ sáu. Cuối tuần thì được các chú ở đồn đón về kèm cặp thêm. Bên cạnh đó, đơn vị cũng thường xuyên phối hợp với nhà trường kiểm tra năng lực, bồi dưỡng học tập. Cùng với đó, đơn vị cũng cắt cử cán bộ theo dõi, phối hợp chặt với nhà trường và giáo viên chủ nhiệm để có thể kịp thời động viên, hỗ trợ các em một cách tốt nhất. Hiện tại, nguồn kinh phí hỗ trợ này do chính cán bộ, chiến sĩ của đồn tự nguyện đóng góp.
Sẻ chia về việc làm hết sức ý nghĩa của cán bộ, chiến sĩ Đồn biên phòng A Mú Sung, thầy Trần Hữu Cường, Phó Hiệu trưởng trường Tiểu học và Trung học cơ sở Nậm Chạc cho biết, Phu Xá Hờ và Chảo A Tình đều là hai học sinh có gia cảnh đặc biệt khó khăn. Việc được cán bộ, chiến sĩ đồn biên phòng nhận nuôi, chăm sóc và hỗ trợ học tập cho hai em mang ý nghĩa rất lớn, không chỉ là trước mắt mà còn lâu dài với cuộc đời hai em, giúp các em có nơi nương tựa an toàn, vượt qua được nỗi mặc cảm…
Câu chuyện ươm mầm xanh trên non của cán bộ, chiến sĩ Đồn biên phòng A Mú Sung là vậy, là minh chứng sống cho giá trị nhân văn sâu sắc của tình người, xứng danh với với lời thề danh dự “Vì nhân dân phục vụ” của người lính biên phòng nơi tuyến đầu Tổ quốc.

Cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng A Mú Sung chuẩn bị đầy đủ sách vở cho người dân khi đi học
Dân tin yêu, việc gì cũng thuận.
Trung tá Bùi Trung Thành, Bí thư Đảng ủy, Chính trị viên Đồn Biên phòng A Mú Sung cho biết, dưới sự chỉ đạo triển khai đồng bộ của Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Lào Cai, trong những năm vừa qua, bám chắc phương châm “3 bám” - “bám đơn vị, bám địa bàn, bám chủ trương chính sách” và “4 cùng” - “cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng đồng bào”, Đồn Biên phòng A Mú Sung đã thực hiện tốt các nhiện vụ mà Đảng và Nhà nước giao như: Tuần tra, đấu tranh, phòng, chống tội phạm xuyên biên giới. Cùng với đó còn là công tác tuyên truyền, vận động bà con nhân dân nâng cao nhận thức về chủ quyền lãnh thổ, không xâm canh, vượt biên trái phép, không tiếp tay cho buôn lậu và các hành vi vi phạm pháp luật, xây dựng thế trận lòng dân vững chắc nơi địa đầu Tổ quốc. Để làm nên thế trận lòng dân vững chắc nơi tuyến đầu, đó không phải là việc ngày một ngày hai mà làm được, mà là một quá trình gắn bó lâu dài, bền bỉ, xuất phát từ tâm của những người lính biên phòng, bắt đầu từ những việc nhỏ nhất.
Bên cạnh việc tuần tra biên giới, bảo vệ từng tấc đất nơi biên cương, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng A Mú Sung cũng đã tích cực phối hợp cùng với Cấp ủy chính quyền địa phương, triển khai nhiều phong trào như “Đồng hành cùng phụ nữ biên cương”, giúp dân làm kinh tế, cấp bò giống cho người nghèo. Cùng với đó là hàng loạt các chương trình như: “Con nuôi đồn biên phòng”, “Nâng bước em tới trường”…
Cũng theo Trung tá Bùi Trung Thành, khó khăn nhất ở nơi đây là địa bàn quản lý rộng, với 26,762km đường biên giới. Thêm nữa, ở nơi này, một năm cũng phải mất tới vài tháng mưa phùn gió bấc, sương mù giăng kín lối. Mỗi khi thời tiết không thuận, đường lên bản gặp vô vàn khó khăn. Cũng quãng đường đó, nếu trời đẹp, đi chỉ vài chục phút thì ngày mưa đường trơn trượt và lầy lội có khi hì hục đẩy xe cả buổi...
Chỉ tính riêng trong năm 2025, do ảnh hưởng của cơn bão số 10 và 11, Ban chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Lào Cai đã phải điều động hàng chục lượt cán bộ, chiến sĩ phối hợp cùng lực lượng Công an xã và Quân sự xã khẩn trương khắc phục sự cố, vận động di dời cả chục hộ dân đang nằm trong vùng có nguy cơ sạt lở cao. Tuy nhiên, Trung tá Bùi Trung Thành nhấn mạnh, cũng chính vì làm tốt công tác tuyên truyền vận động quần chúng nên bấy lâu nay, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng A Mú Sung luôn được bà con dân bản tin yêu, ủng hộ. Sự gắn kết ấy đúng như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy năm xưa: “Mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội luôn giữ vững và phát huy tốt mối quan hệ gắn bó máu thịt với nhân dân, quân với dân như cá với nước”.
Nguồn ANTĐ: https://anninhthudo.vn/noi-con-song-hong-chay-vao-dat-viet-post636753.antd










