Những điều cần biết về còn ống động mạch

Còn tồn tại ống động mạch patent ductus arteriosus (PDA) là một trong những bệnh tim bẩm sinh thường gặp, thường được phân loại trong nhóm bệnh tim bẩm sinh không tím, có luồng thông trái - phải, độ nặng tùy thuộc vào kích thước lỗ thông, lưu lượng máu lên phổi. Tần suất chiếm 12% các bệnh tim bẩm sinh, khoảng 1/5.000 trẻ sơ sinh. Đối với trẻ sơ sinh thiếu tháng, con số này có thể tăng lên 8/1.000.

Ống động mạch

Ống động mạch

GIẢI PHẪU HỌC

Ống động mạch có căn nguyên phôi thai từ cung thứ VI cung động mạch chủ phôi thai, có cấu trúc mô học được biệt hóa rất sớm từ tháng thứ 4 của thai kỳ. Khác hẳn với động mạch chủ lẫn động mạch phổi và các động mạch khác, mô chun hiện diện lẫn lộn trong các lớp, mô chun trong ống động mạch (elastin) chỉ hiện diện giữa lớp nội mạc (intima) và trung mạc (media). Ngoài ra còn sự hiện diện của chất nhờn (gel) trong các lớp trung mạc khiến cho ống động mạch trong một số điều kiện nhất định (như tăng lưu lượng máu, tăng áp lực oxy, các lớp áo sẽ dễ bị xơ hóa làm co ống động mạch để dẫn đến đóng bít lại.

Phân loại giải phẫu ống động mạch: A. type A “Hình nón” với đầu ống động mạch chủ to và thu nhỏ lại ở đầu động mạc phổi. B. type B “dạng cửa sổ” với độ dài ống rất ngắn và đường kính ống to. C. type C “hình ống” không có sự co thắt đầu động mạch phổi. D. type D “dạng phức tạp” với nhiều chỗ co thắt. E. type E “dạng ống dài” với chỗ co thắt ở xa phía trước khí quản.

Phân loại giải phẫu ống động mạch: A. type A “Hình nón” với đầu ống động mạch chủ to và thu nhỏ lại ở đầu động mạc phổi. B. type B “dạng cửa sổ” với độ dài ống rất ngắn và đường kính ống to. C. type C “hình ống” không có sự co thắt đầu động mạch phổi. D. type D “dạng phức tạp” với nhiều chỗ co thắt. E. type E “dạng ống dài” với chỗ co thắt ở xa phía trước khí quản.

SINH LÝ BỆNH HỌC

Như tất cả các tổn thương tim bẩm sinh có thông trái - phải, lưu lượng luồng thông tùy thuộc vào kích thước lỗ thông và tương quan kháng lực giữa tuần hoàn phổi và tuần hoàn hệ thống. Nếu kích thước ống động mạch lớn, luồng thông có thể gia tăng, nếu tỷ lệ Qp/Qs tăng cao đến mức 2/1 hoặc 3/1 tâm thất trái sẽ chịu tăng tải thể tích, áp lực động mạch phổi tăng cao sẽ tiến đến tương đương áp lực hệ thống, hậu quả sẽ có thể đưa đến suy tim ứ huyết.

Trong trường hợp kích thước ống động mạch nhỏ, áp lực động mạch phổi không tăng cao bệnh nhân có thể không có triệu chứng gì. Trường hợp tổn thương phối hợp thông trái phải khác nếu các lỗ thông đó lớn, tổn thương ống động mạch có thể bị che khuất, chỉ có thể phát hiện khi siêu âm, thậm chí chỉ khi tiến hành phẫu thuật các tổn thương trên.

LÂM SÀNG

Bệnh cảnh lâm sàng bệnh nhi còn tồn tại ống động mạch tùy thuộc rất nhiều vào kích thước lỗ thông, rất giống với bệnh cảnh trẻ có thông liên thất hay các tất tim bẩm sinh khác có thông trái - phải (cửa sổ phế chủ...). Nếu kích thước lỗ thông lớn bệnh nhi có thể bị suy tim ứ huyết sớm với khó thở nhanh, bú kém, không tăng cân...

Nếu lỗ vừa hay nhỏ sẽ không có hoặc rất ít triệu chứng, thậm chí không có triệu chứng nào gợi ý ngoại trừ các triệu chứng viêm nhiễm đường hô hấp là những dấu hiệu đầu tiên trên lâm sàng. Thăm khám trẻ nghe có âm thổi liên tục dưới xương đòn trái, lồng ngực thường biến dạng nhô cao, khoảng cách HA tâm thu tâm trương rộng (áp lực mạch đập lớn) (pulse pressure), mạch nẩy mạnh...

Ngược lại ở trẻ sơ sinh âm thổi nghe thấy chỉ có thành phần tâm thu, âm thổi liên tục chỉ có thể nghe được về sau khi áp lực động mạch phổi giảm đi. Tại ổ van 2 lá có thể ghi nhận âm thổi tâm trương “hẹp chức năng” van 2 lá do tăng lưu lượng máu lên phổi khi máu trở về tim trái nhiều qua van 2 lá.

Trong các trường hợp bệnh lý còn tồn tại ống động mạch kết hợp với bệnh lý không lỗ van động mạch phổi có hay không hở vách liên thất, triệu chứng lâm sàng không có gì đặc thù đôi khi chỉ có thể phát hiện ống động mạch qua siêu âm mà thôi.

Trường hợp có tăng áp lực động mạch phổi nặng, âm thổi tâm thu trở nên ngắn hơn, thành phần tâm trương lúc đầu nghe rõ, sau đó mất dần có lúc không còn nghe và sau đó kể cả âm thổi tâm thu cũng biến mất nhường chỗ cho 1 âm thổi tâm trương nhẹ của hở van động mạch phổi (âm thổi Graham Steel).

Ống động mạch trên siêu âm tim qua thành ngực

Ống động mạch trên siêu âm tim qua thành ngực

ĐIỀU TRỊ

- Điều trị ngoại: Phẫu thuật cắt cột ống động mạch là một phẫu thuật tim kín không cần qua máy tim phổi nhân tạo, đường mổ thường là đường bên thành ngực, rất ít biến chứng mặc dù có thể xảy ra như tổn thương dây thần kinh quặt ngược, vỡ ống ngực bạch huyết, cột nhầm động mạch phổi trái, động mạch chủ xuống hay động mạch cảnh; ngoài ra các vấn đề gây mê, sẹo, thời gian nằm viện, đặt ống dẫn lưu..

- Điều trị can thiệp:

Chỉ định: Tất cả các người bệnh còn ống động mạch đảm bảo đầy đủ các điều kiện sau:

- Trên siêu âm Doppler tim: Chưa có hiện tượng đảo shunt qua ống động mạch hoặc là shunt 2 chiều nhưng chiều trái-phải chiếm ưu thế.

- Khi thông tim: Chưa có tăng áp lực động mạch phổi cố định.

- Không có tình trạng nhiễm khuẩn.

- Hình thái ống không quá bất thường: Ống lớn, cổ ngắn, xoắn vặn…

Chống chỉ định:

- Đã tăng áp lực động mạch phổi cố định.

- Ống động mạch quá lớn hoặc bất thường giải phẫu

- Siêu âm Doppler tim: Phát hiện có sùi trong buồng tim và/hoặc các mạch máu, hoặc shunt qua ống động mạch là shunt phải-trái

- Đang có một bệnh nặng hoặc cấp tính khác

- Bất thường nghiêm trọng giải phẫu lồng ngực hoặc cột sống.

- Dị ứng thuốc cản quang

Bít ống động mạch bằng dụng cụ

Bít ống động mạch bằng dụng cụ

BS Ngô Hùng Quang Minh

Nguồn Báo Thể Thao & Văn Hóa: http://thethaovanhoa.vn/ban-can-biet/nhung-dieu-can-biet-ve-con-ong-dong-mach-n20200207110536654.htm