Nhà thơ Văn Công Hùng - Vẫn rong chơi trên mọi nẻo đường

Trong số bạn hữu thời sống và viết ở Tây Nguyên, tôi có duyên nợ với Văn Công Hùng. Anh học Khoa văn khóa 1, Đại học Tổng hợp Huế, trước tôi 7 khóa. Khi anh lên công tác ở Ty Văn hóa - Thông tin Gia Lai - Kon Tum (năm 1981), tôi đang học THPT, sau đó mấy năm được làm đồng môn của anh. Rồi không biết cơ duyên thế nào ít lâu sau tôi cũng lên Đài PTTH Gia Lai - Kon Tum công tác (năm 1987) và gặp anh.

Nhà thơ Văn Công Hùng. Ảnh: Tư liệu

Nhà thơ Văn Công Hùng. Ảnh: Tư liệu

Sau này, Văn Công Hùng luôn nhớ cái buổi chiều cuối tháng Mười khi anh đặt chân đến phố núi Pleiku lần đầu đang là mùa khô, trời lạnh, buồn thăm thẳm, nhưng cũng đẹp đến nao lòng. Mới đó mà mấy chục năm trôi qua, nhiều người đã đi nơi khác, còn anh thì vẫn ở đó, không về!

Duyên thơ, nghiệp báo

Hồi mới lên Pleiku, Văn Công Hùng luôn ám ảnh về Huế dù đã vời vợi xa. Và trong một lần đi trên đường Trần Hưng Đạo, Pleiku, anh bắt gặp một cô gái mặc áo dài trắng bay phơ phất trong chiều. Anh lặng lẽ đi theo suốt con đường Trần Hưng Đạo, qua đường Quang Trung thì “áo dài” vào nhà thờ Thăng Thiên. Mái tóc kẹp buông nửa lưng, đôi mắt buồn, dáng người thanh mảnh, bước đi khoan thai khiến anh như chết đứng. Ngay lập tức một câu thơ bật ra: “Tà áo trắng vương trong chiều cao nguyên”. Và tối hôm ấy, dưới ánh ngọn đèn tròn chập chờn thiếu công suất, Văn Công Hùng làm xong bài Gặp Huế trên cao nguyên.

Nhiều đồng nghiệp của Văn Công Hùng khởi nghiệp từ làm báo rồi mới làm thơ, viết văn. Còn anh thì ngược lại, làm thơ từ thời sinh viên rồi mãi sau này mới viết văn, làm báo. Anh đùa: “Hồi đó cả nước đói ăn thì bọn làm thơ càng đói hơn”. Sinh hai đứa con giữa cái thời khó khăn ấy, anh vẫn kiên trì làm thơ và... nuôi heo. Và việc nuôi heo cũng vào thơ; cuối bài còn ghi cẩn thận: “Kỷ niệm ngày vợ cân một tạ heo”.

Nhưng rồi các con anh vào đại học, lương hai vợ chồng anh gộp lại chuyển cho chúng xong thì còn lại vừa đủ... ăn xôi sáng. Và thế là anh chuyển sang viết báo, ban đầu là viết để lấy nhuận bút gửi vào Sài Gòn cho con ăn học, rồi dần dần viết song hành với thơ. Cho đến khi con cái trưởng thành, đi làm, có tiền biếu cho bố mẹ rồi thì anh tuyên bố: “Chỉ chơi, không viết nữa”. Nói là thế nhưng không dễ buông, vừa không viết thì biết làm gì, vừa anh em bạn bè ở các báo đặt bài, thế là lại viết, như một duyên nợ đời người.

Chị Yến, bà xã Văn Công Hùng làm ngành y, lấy phải ông chồng nhà thơ, không tin thơ có thể nuôi nổi anh chứ đừng nói nuôi con, nên cứ thấy chồng ngồi trước bàn làm thơ là buồn, mà khi anh hăng hái đi lấy nước gạo cho heo ăn là vui. Đến lúc thấy anh viết báo có nhuận bút, tằn tiện có thể lo được tiền học cho con thì lại thích anh viết báo hơn... làm thơ.

Có lẽ vui nhất những năm đầu ở Pleiku là Văn Công Hùng có nhiều bạn bè. Nhiều khi nghĩ lại, anh cũng thấy buồn cười. Quen biết đã đành, có đứa chả biết là ai, tự bảo tên này tên kia, là nhà văn, nhà báo ở chỗ nọ chỗ kia, thế là hân hoan đón. Anh kể: “Nó đến rồi còn lôi bạn nó đến nữa, chứa hết, vô tư hết, mà là ở nhà tập thể. Có đứa nửa đêm gọi cửa, chủ nhà mắt nhắm mắt mở dậy, nó lảo đảo say, nói em là học trò thầy Phạm Phú Phong. Nó bảo cho em ngủ nhờ”. Phạm Phú Phong là nhà văn, giảng viên đại học, là bạn học cùng khóa với Văn Công Hùng.

“Mãi sẽ chỉ làm người hát rong”

Chuyện làm thơ, viết báo của Văn Công Hùng có nhiều giai thoại, phần lớn tôi nghe thế hệ các anh chị đi trước kể. Ngày tôi vào Trường Đại học Tổng hợp, anh em Khoa văn hay kể Văn Công Hùng có một ước mơ “để đời” khi còn sinh viên là sau này ra trường được hút hết điếu thuốc lá ngon mà không bị đứa nào xin hút ké. Hồi đó đất nước khó khăn, đói kém hành hạ cái dạ dày đã đành, cái cơ thể của sinh viên cũng đói thuốc lá, cần cái nhựa ni-cô-tin để xoa dịu cái đói.

Sau này trở thành nhà văn (Văn Công Hùng là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, đã xuất bản 16 đầu sách gồm thơ, trường ca và bút ký), rồi sau đó nữa làm nhà báo và giàu lên, Văn Công Hùng lại có “tuyên ngôn” khác: “Mãi sẽ chỉ làm người hát rong” - ý nói chỉ làm thơ, rong chơi đây đó, không cần lo nghĩ gì nữa.

Hồi mới lên làm việc ở Ty Văn hóa - Thông tin Gia Lai - Kon Tum, Văn Công Hùng có dịp gặp nhà văn Trung Trung Đỉnh, người từng chiến đấu và sáng tác trên mảnh đất Tây Nguyên vào những năm chiến tranh ác liệt, sau này thỉnh thoảng trở lại Pleiku thăm chiến trường xưa và đồng đội. Lần nào Văn Công Hùng cũng được phân công lo đón tiếp nhà văn.

Được sự khích lệ của nhà văn quân đội, đêm ngày anh hăm hở viết truyện ngắn. Anh mạnh dạn đưa bản thảo cho Trung Trung Đỉnh đọc thử, hồi hộp chờ nhận xét. Nhà văn đọc xong cười, nói: “Tốt nhất theo anh sự đóng góp lớn nhất của chú cho nền văn xuôi nước nhà là hãy đừng bao giờ viết truyện ngắn nữa”. Bị phang một đòn, từ đó anh không bao giờ bén mảng đến thể loại truyện ngắn nữa. May mà còn thơ để anh có cửa nương nhờ, bởi năng khiếu thơ sẵn có trong anh từ thời sinh viên.

Ngẫm lại, Văn Công Hùng cho rằng một thời sống khổ, nông nổi nhưng vui. Mà cái thời xưa ấy sống cũng đơn giản, mọi thứ như một cuộc chơi. Có bạn bè, có thơ, anh luôn nhớ về người vợ hiền ngày đêm sát cánh cùng anh.

Một số tác phẩm của nhà thơ Văn Công Hùng. Ảnh: Tư liệu

Một số tác phẩm của nhà thơ Văn Công Hùng. Ảnh: Tư liệu

Khi nhà thơ “lấn sân” sang văn xuôi

Nhiều người nhớ đến Văn Công Hùng là nhớ đến một người thơ “hát rong” nhưng luôn suy tư, trăn trở, chiêm nghiệm về thế sự mang tính triết luận. Có người trong đề tài nghiên cứu của mình còn đặt anh bên cạnh các cây bút tài năng của nền thơ hiện đại Việt Nam. Có nhà phê bình văn học cho rằng Văn Công Hùng là một người nhiệt tình, hăng hái trong nhộn nhịp của cuộc sống và sâu thẳm trong tâm hồn anh luôn cháy hết mình với thơ ca.

Nhưng công bằng mà nói, với Văn Công Hùng không chỉ có thơ. Trong gia tài văn chương, báo chí của anh còn có nhiều phóng sự, ký sự, bút ký để đời. Gắn bó với miền đất Tây Nguyên gần cả cuộc đời cầm bút, anh từng tâm tư, suy ngẫm:

“Tây Nguyên đang rời xa đi cái gốc nguyên thủy của nó, đang bị giằng xé dữ dội giữa phát triển và bảo tồn, giữa những vòng quay chóng mặt của ngộ nhận và cố chấp, của cả tự ti và áp đặt, của vênh vang và ngu dốt, của thực dụng và hiếu thắng… Chứ trong tôi, một Tây Nguyên hài hòa, nhân văn, trữ tình và đầy khát vọng nhưng cũng rất khiêm nhường luôn luôn thường trực, một Tây Nguyên biết cứ khi nào con người mỏi chân thì lại hiện lên một cái cây bóng mát, một Tây Nguyên có hẳn một nghi lễ khóc trâu trước khi hiến tế, và một Tây Nguyên cương quyết không lừa thần linh, nên dẫu nhà nước hứa rồi nhưng lại không cho thần linh ăn trâu thì họ mang về làng để làm. Bởi họ không ăn trâu, mà là dâng hiến cho thần linh. Sự dâng hiến tự nguyện và thành kính, nhân nghĩa thủy chung và cũng rất giữ lời, trung thực một cách cực đoan như vậy đấy ...” (Tây Nguyên của tôi).

Văn Công Hùng có nhiều bút ký hay về các vùng đất của đất nước, nơi anh từng có bạn bè, nơi từng đến, ở lại và ra đi trong tiếc nuối. Với Quảng Trị, lần nào đi ngang về tắt anh đều ghé thăm, vì ở đây anh có nhiều bạn đồng môn gắn bó, cũng là mảnh đất anh có nhiều ấn tượng khó phai.

Có lần anh tâm sự: “Chả hiểu sao Đông Hà với tôi cứ như là tiền định. Lần nào về tới Huế rồi cũng ngứa ngáy muốn chạy ngay ra Đông Hà. Tôi đã có nhiều lần chạy xe máy từ Huế ra Đông Hà như thế, có khi dưới mưa như trút nước, có khi dưới nắng nhòe trời, có lần chạy xe máy ra đến lúc về thấy đường vợi xa lại vác cả xe máy lên xe đò quay lại. Mà nào Đông Hà có hoa thơm gái đẹp cho cam (nói rõ thêm, gái đẹp thì rất nhiều nhưng không phải của mình), có chăng chỉ là cái thứ nao nao nhớ của riêng mình với ấn tượng riêng những người bạn ngoài ấy, hơn nữa, trên thế, là với cái mảnh đất đầy những huyền thoại nhưng lại rất gần gũi, thân thiện này.

Nhớ hồi tôi quyết định chuyển công tác về quê nhà, Văn Công Hùng viết rằng những người xa phố núi Pleiku, trong đó có tôi là “cứ thắt ruột mà về”. Chúng tôi “cứ thắt ruột mà về”, còn anh thì không thể. Anh vẫn suốt ngày rong chơi, làm thơ, viết báo, viết văn và ở lại với phố núi Pleiku - miền đất chất chứa trong anh nhiều kỷ niệm. Tôi nghĩ, Văn Công Hùng chẳng thể về đâu, anh ở lại, thậm chí có thể sau này là nằm lại với mảnh đất Tây Nguyên xa ngái, ân tình này, như là định mệnh của đời người.

TRƯƠNG ĐỨC MINH TỨ

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/nha-tho-van-cong-hung-van-rong-choi-tren-moi-neo-duong-3320560.html