Người đàn bà vượt giới tuyến

Giữa những năm tháng đất nước bị chia cắt, có người phụ nữ miền Trung vượt giới tuyến bằng tình yêu thương, bằng ý chí và nghị lực phi thường. Cuộc đời bà là một hành trình đi qua sợ hãi, đắn đo và những lựa chọn hợp lẽ để gieo nên trái ngọt cho đời.

Chân dung bà Nguyễn Thị Ty. Ảnh: H.S

Chân dung bà Nguyễn Thị Ty. Ảnh: H.S

Có những câu chuyện tình thời chiến mộc mạc mà mãnh liệt, như những ngọn lửa cháy âm ỉ trong lòng quê ở làng Bồ Mưng, phường Điện Bàn Bắc, thành phố Đà Nẵng. Người ta còn nhắc đến một phụ nữ nhỏ bé, hiền lành, gan góc: bà Nguyễn Thị Ty, người đã vượt sông Bến Hải để tìm chồng trong thời loạn ly. Câu chuyện này tôi nghe và ghi lại với tư cách một người chứng kiến, để giữ cho ký ức không bị lãng quên.

Tình yêu nảy nở giữa tháng ngày bão lửa

Họ gặp nhau trong những ngày đầu chống Pháp tại xã Điện Hòa (cũ). Lúc bấy giờ ông Nguyễn Văn Ngạnh là cán bộ chính trị viên xã đội, bà Ty là cô du kích ở cơ sở. Họ không có thời gian để hẹn hò, nhưng mỗi lần cùng nhau đi công tác, chia nhau nắm cơm, họ đều thấy lòng ấm áp lạ thường. Tình cảm ấy không phải lãng mạn, mà là tình thương yêu nảy sinh từ trong chiến đấu và trở thành mối dây bền chặt.

Mùa thu năm 1950, gia đình hai bên tổ chức lễ cưới cho đôi trai tài gái sắc của hai làng Bồ Mưng và Bích Trâm. Đám cưới giản dị nhưng trang nghiêm, mâm cơm đơn sơ, lời chúc phúc của đồng đội và sự hiện diện của bà con… Họ hôn nhau giữa ruộng đồng và tiếng bước chân về muộn của người nhà nông. Người làng kể lại: khi ấy ông Ngạnh nhìn vợ bằng cái nhìn vừa tự hào vừa lo âu, vì không biết ngày mai rồi sẽ ra sao?

Sau ngày cưới, hạnh phúc nhỏ nhoi hiện lên trong từng việc thường ngày: bà Ty dậy sớm lo công việc gia đình, đi họp hội phụ nữ, còn ông đi công tác, họp hội ở xã, thôn… Buổi chiều về, vợ chồng quây quần bên bếp lửa, thầm thì những dự định như lo cho con, cho ngôi nhà chưa kịp xây. Tình yêu của họ bình thường mà chân thực, từ bát cơm, manh áo, bàn tay đặt lên vai trong đêm đông hay lời dặn dò trước mỗi khi đi xa.

Năm 1952, tin vui đến, bà sinh con trai. Tiếng trẻ khóc chào đời trong túp lều đơn sơ là tiếng cười sưởi ấm một gia đình giữa tháng ngày khó khăn. Đứa con nhỏ - anh Nguyễn Văn Kiên trở thành niềm hy vọng, là sợi dây buộc hai người thêm gần nhau. Họ đặt kế hoạch nuôi con, dạy con nên người, chờ ngày đất nước thanh bình.

Lời hẹn và quyết định đánh liều số phận

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 đặt ra một phân chia nghiệt ngã, vĩ tuyến 17 thành giới tuyến tạm thời. Nhiều cán bộ, trong đó có ông Ngạnh, được tổ chức điều động tập kết ra Bắc.

Ngày tiễn chồng, bà Ty bồng con nhỏ, tay cầm chiếc khăn gói nắm cơm cho chồng mang theo. Không khí nặng nề, mỗi bước chân dường như kéo dài. Ông Ngạnh biết rằng đây là nhiệm vụ lớn lao, nhưng cũng thấy xốn xang khi nhìn mắt vợ đỏ hoe ngân ngấn đôi dòng. Bà cố nở nụ cười để che giấu sự sợ hãi xen lẫn nỗi buồn. Ông ôm vợ và đứa con bé bỏng rồi nói đôi câu vội vã, như để khắc sâu vào trí nhớ những điều cần nói: “Em hãy nuôi con cho khỏe. Hai năm thôi, anh sẽ về”.

Lời hẹn ấy vừa là an ủi, vừa là minh ước của niềm tin giữa chiến tranh. Khi con tàu chạy về phía xa, bà đứng trân như đóng băng, bờ mi run rẩy, nước mắt chảy lặng thầm. Tiếng còi dần khuất, bóng người chống chọi với sương mù, một hình ảnh đau đến cắt ruột. Đó không chỉ là chia tay của hai con người, mà là một vết cắt trong cuộc đời của một gia đình, trong nhịp sống của cả làng quê ngày ấy.

Những tháng ngày sau đó là chuỗi đêm thao thức. Tiếng trẻ con bi bô gọi “ba”, tiếng gió rít qua khung cửa, tất cả đều khiến lòng bà quặn thắt. Bà lo lắng cho tương lai đứa trẻ vừa biết đi, vừa lo cho người chồng bặt vô âm tín. Nhiều lần bà muốn hỏi tổ chức về tin tức của chồng, nhưng đường giao liên bí mật, vòng kiểm soát chặt chẽ. Khi nghe tin về chiến cuộc cứ dồn dập ở nơi nào đó, vừa lo lắng, nhớ thương. Rồi bà nảy ra ý nghĩ là phải đi tìm chồng. Ý nghĩ ấy như lửa cháy trong lòng, dập tắt mọi rào cản sợ hãi.

Cuối năm 1955, bà cùng gia đình chồng thỏa thuận, gửi con cho bà nội và chú thím nuôi giùm; bà sẽ bắt đầu hành trình tìm chồng. Những người thân đã động viên, khuyên bảo, song bà đã quyết. Bà chuẩn bị đồ đạc gồm: đôi quang gánh, vài bộ quần áo, chút tiền lẻ và một tấm lòng không sờn. Chịu đựng biết bao lời lo âu của mẹ già, bà vẫn bước đi, bước của người con dâu, người vợ, người mẹ; bước của một kẻ dám liều để giữ trọn nghĩa tình.

Hành trình vượt giới tuyến

Hành trình của bà không dễ dàng, không thể đi đường quốc lộ vì trạm kiểm soát dày đặc; bà phải giả làm người bán hàng rong, lẩn qua chợ, ngủ lều ven đường, hỏi han khéo léo để không bị chú ý. Có lần bị lính gác hỏi giấy tờ, bà lúng túng nhưng vẫn mồm miệng ngọt ngào, kể rằng mình từ làng kia vào mua gạo. Nhiều đêm, bà nằm co ro trong góc chợ, lòng bồn chồn nghĩ đến con thơ đang được bà nội chăm sóc.

Khi tiến đến gần bờ giới tuyến, bom đạn như muốn nuốt chửng cả bầu trời. Vùng Vĩnh Linh được ví như “chảo lửa” - pháo sáng, tiếng nổ, ánh lửa như quái vật vươn lên giữa đêm. Bà phải băng rừng về phía tây, lén men theo đường mòn Trường Sơn để tránh các đồn bót. Đêm qua đêm, bà lặng lẽ cùng một nhóm người được cơ sở cách mạng dẫn lối, lòng đầy hồi hộp.

Đêm vượt sông Bến Hải là đêm không thể nào quên. Dòng nước đen như mực, sóng lăn tăn dưới ánh pháo sáng. Chiếc thuyền nan chòng chành, bà nghe tim mình đập dồn dập liên hồi. Có lúc bóng người trên thuyền như bóng ma sợ hãi. Mỗi sải chèo đưa bà gần hơn tới phía bên kia là gần thêm sự mong đợi và nỗi khát khao được nhìn thấy người chồng đã bao mùa xa cách.

Khi thuyền cập bến, trời vừa hửng sáng. Bà bước lên bờ với tấm áo ướt đẫm, tóc tai rối bời. Bộ đội tuần tra đưa bà về trạm; khi biết bà là người vợ tìm chồng tập kết, những ánh mắt cũng dịu đi. Bà được đưa vào cơ sở cách mạng, rồi hướng dẫn tới những đơn vị nơi có người miền Nam tập kết.

Gia đình bà Nguyễn Thị Ty tại Thanh Hóa 30/3/1975. Ảnh: H.S

Gia đình bà Nguyễn Thị Ty tại Thanh Hóa 30/3/1975. Ảnh: H.S

Cuộc hội ngộ và đời sống tiếp nối

Đặt chân lên miền Bắc, lòng bà rộn ràng như mở hội. Nhưng tìm chồng ở đâu giữa muôn ngàn đơn vị quân đội? May mắn thay, khi đến Thanh Hóa, bà ngã bệnh nên ghé Bệnh viện K7, xã Đồng Vệ, huyện Quảng Xương xin thuốc. Nhờ hỏi thăm, bà biết có Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh nên liền tìm đến.

Qua trình bày, các cán bộ giúp bà dò tìm hồ sơ, và cuối cùng bà biết tin: Ông Nguyễn Văn Ngạnh là Đại đội trưởng Pháo binh, thuộc Quân đoàn 2, đang đóng quân tại Vĩnh Linh, Quảng Trị. Mừng rỡ, bà lại ngược đường, vượt qua bốn tỉnh, hơn bốn trăm cây số bằng đủ phương tiện thô sơ, mất gần một tháng mới đến nơi.

Ngày gặp lại, ông Ngạnh bàng hoàng không tin nổi. Người vợ bé nhỏ năm xưa giờ gầy gò, rám nắng, nhưng ánh mắt vẫn sáng và đôi môi vẫn cười. Bà vừa nhìn thấy chồng đã òa khóc, ôm chầm lấy anh giữa sân đơn vị. Ông cũng không cầm được nước mắt. “Mình ơi, em nhớ mình quá... Em mừng quá... Cuối cùng ta cũng gặp lại nhau rồi!” - bà nghẹn ngào nói.

Câu chuyện ấy làm xúc động cả đơn vị. Chỉ huy cho ông nghỉ phép, hai vợ chồng ra Thanh Hóa trong thời gian ngắn. Rồi họ chọn mảnh đất Đồng Vệ làm quê hương thứ hai. Bà tiếp tục học tập, trở thành dược tá Bệnh viện K7, còn ông Ngạnh tiếp tục công tác trong quân đội. Bà sinh thêm bốn người con: ba trai, một gái. Họ cùng nhau nuôi dưỡng những đứa con sinh ra sau này. Khi đất nước còn chia cắt, họ sống giữa đồng đội, chấp nhận những gian khổ vì niềm tin lớn lao vào một ngày thống nhất.

Sau ngày thống nhất đất nước, ông bà về lại quê nhà, sửa sang ngôi nhà xưa trên nền móng cũ của cha ông, con cái lớn lên thành người có ích. Nhiều khi nhìn lại thấy rằng thời gian đã nhuộm bạc mái đầu, nhưng ký ức chẳng chút phai mờ.

Nhân chứng và lời kết

Khi tôi gặp họ, ông bà đều đã ngoài tám mươi. Bà Ty kể lại chuyện xưa bằng giọng chậm rãi, ánh mắt vẫn sáng như ngày nào vượt sông Bến Hải. Tôi hiểu rằng, chính những con người như bà đã làm nên vẻ đẹp thầm lặng của thời chiến - những người phụ nữ không cầm súng mà vẫn dấn thân giữa bom đạn, chỉ vì một chữ “nghĩa”.

Câu chuyện về người đàn bà vượt giới tuyến không chỉ là chuyện riêng của một người vợ tìm chồng. Nó là một lát cắt trong bức tranh lớn của lịch sử - nơi tình yêu và lòng trung trinh hòa vào niềm tin cách mạng.

Dưới mỗi mái nhà quê, có biết bao người mẹ, người vợ từng âm thầm chịu đựng, cất giấu những hy sinh không tên. Và trong mỗi câu chuyện được kể lại, có trách nhiệm của thế hệ sau - phải ghi nhớ, trân trọng và kể lại cho mai sau.

HÀ SÁU

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/nguoi-dan-ba-vuot-gioi-tuyen-3321564.html