Một thời là lính trinh sát Đặc công
Thái, lính C11 đi với C10, đã lên lấy xác anh Trang, Trung đội trưởng, trong trận đánh bình độ 1800B, đêm 10 rạng ngày 11/6/1981.
Thái kể lại: “Khoảng 4 giờ sáng, tôi và 2 đồng đội C10 theo đường vòng, rẽ cây đi lên cứ điểm, không đi theo dấu lộ tiêu của trinh sát mở cửa. Trời sáng mờ, đủ nhìn. Tôi buộc dây vào chân, kéo thi thể xuống chân đồi, nhận ra anh Trang, B trưởng. Kéo khuất tầm, tôi xốc anh Trang lên vai, vác theo dọc suối đến điểm tập kết, bàn giao cho đơn vị phẫu.
Còn anh Phong, C trưởng, ai đưa xuống, tôi không nhớ nữa, lâu lắm rồi.”
Giao lưu, gặp mặt Hội Cựu lính Đặc công quê Nông Cống, tổ chức ngày 16/8/2026 tại Làng Ốc, xã Thăng Bình, tỉnh Thanh Hóa. Tôi gặp được rất nhiều đồng đội ở Trung đoàn Đặc công 112 và đồng đội cũ ở Trung đoàn Đặc công 113.
Bất ngờ, có 3 đồng đội hỏi:
– Anh trước ở E113 phải không?
Thành trả lời ngay:
– Tháng 3/1981, tôi ở C10D9.
– Anh có nhận ra Thu, trinh sát D9 không? Tôi Thu A382 đây.
– Tôi Thái, lính C11 bổ sung đi với C10, lên lấy xác anh Trang, Trung đội trưởng, trận đánh bình độ 1800, đêm 10 rạng ngày 11/6/1981 đây.
Thái kể lại:
– Khoảng 4 giờ sáng, tôi và 2 đồng đội C10 theo đường vòng, rẽ cây đi lên cứ điểm, không đi theo dấu lộ tiêu của trinh sát mở cửa. Trời sáng mờ, đủ nhìn. Tôi buộc dây vào chân, kéo thi thể xuống chân đồi, nhận ra anh Trang, B trưởng. Kéo khuất tầm, tôi xốc anh Trang lên vai, vác theo dọc suối đến điểm tập kết, bàn giao cho đơn vị phẫu.
Còn anh Phong, C trưởng, ai đưa xuống, tôi không nhớ nữa, lâu lắm rồi.

Chân dung người lính trinh sát Đặc công Nguyễn Trung Thu. Ảnh: Thành Đô.
Rất đông đồng đội cùng xôn xao ngày gặp mặt. Riêng tôi chỉ chú ý đến người xưng là Thu, trinh sát D9. Thu mang quân hàm Thượng úy, bước đi tập tễnh.
Tôi hỏi:
– Đồng đội bị thương vào đâu?
Thu nói ngay:
– Tôi bị thương ở Vị Xuyên, cụt chân phải anh ạ. Nên anh em gọi tôi là “Thu Cụt”.

CCB Nguyễn Văn Thái (bìa trái), CCB Nguyễn Trung Thu (giữa) và Thành Đô (bìa phải). Ảnh: Thành Đô.
Thu Cụt có 9 năm lính thì 6 năm là lính trinh sát Đặc công, cho tới khi bị thương, nằm điều trị chờ giải quyết chính sách.
Thu kể:
“Tên tôi đầy đủ là Nguyễn Trung Thu, sinh ngày 04/03/1961, quê xã Trung Thành, Nông Cống, Thanh Hóa (nay là xã Thắng Lợi, tỉnh Thanh Hóa).
Nhập ngũ ngày 15 tháng 8 năm 1980, huấn luyện tại Trung đoàn Đặc công 112. Tháng 3 năm 1981, chuyển ra Trung đoàn 113 Anh hùng, được biên chế vào Trung đội Trinh sát, Tiểu đoàn 9.
Cuối tháng 4/1981, Tiểu đoàn 9 nhận nhiệm vụ lên biên giới đánh cao điểm 1800A, 1800B, do anh Phạm Văn Điến, Đại đội trưởng C9, chỉ huy.
Lúc đó, lính trinh sát đưa đồng chí Đỗ Tam, Bộ Tư lệnh Đặc công, lên chỉ đạo, chủ yếu là đi địa hình.
Trong thời gian 3 tháng năm 1981, đánh điểm cao 1800A, 1800B.
Lần đầu C9 đánh chưa thành công, tổ chức đánh lần 2, giải phóng bình độ 1800B. Thiệt hại: đồng chí Phong, Đại đội trưởng C10; đồng chí Trang, B trưởng; đồng chí Thơm, quê Thăng Bình, Nông Cống, Thanh Hóa, hy sinh khi mới 18 tuổi.”

CCB Lê Trọng Dũng, C6D45E113 (bìa trái), CCB Nguyễn Trung Thu (giữa) và Thành Đô (bìa phải) chụp tại sân nhà riêng của CCB Nguyễn Trung Thu. Ảnh: Thành Đô.
Tháng 11/1981, tôi được rút về kết nạp Đảng. Đến tháng 3 năm 1982, chuẩn bị cho 10 năm thành lập Trung đoàn 113, 3 tháng 6 năm bảy 23 tháng 6 năm 1982, tôi vào đội võ thuật do Trung úy Đức Đen làm giáo viên. Ngày 3 tháng 6, biểu diễn thành công tốt đẹp.
Tháng 2/1983, tôi được cử đi học ngắn hạn tại Trường Sĩ quan Đặc công, Dục Mỹ, Nha Trang. Năm 1984, ra trường được phong quân hàm Thiếu úy, về lại đơn vị cũ, Trung đoàn 113, làm B trưởng Trinh sát C53, trực thuộc Trung đoàn 113.
Cuối năm 1984, cùng với 22 sĩ quan, dưới sự chỉ đạo của Trung tá Lê Văn Cát, lúc đó là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 113, đi từ Tràng Định, Cao Lộc, bình độ 400, Lạng Sơn; sau chuyến sang Cao Bằng, đi Trùng Khánh, Phục Hòa, xã giáp biên giới, về Thái Nguyên. Trong 1 tháng, huấn luyện cho bộ đội trinh sát C53. Tháng 2/1985, đi Lương Sơn, Hòa Bình tập võ và diễn tập thành công, đến tháng 4 năm 1985 về Trung đoàn bộ.
Trên biên giới Vị Xuyên, đồng chí Lương, Thượng úy, Đại đội phó C3, D45 hy sinh. Trung đoàn cử tôi lên thay, kết hợp với Tiểu đoàn 45 do đồng chí Phạm Văn Hưởng làm Tiểu đoàn trưởng, anh Vượng, Tiểu đoàn phó, lấy phiên hiệu 1B, do đồng chí Đại tá Đỗ Văn Ninh, Phó Tư lệnh Binh chủng Đặc công và đồng chí Trung tá Phạm Toanh chỉ đạo trực tiếp. Trong thời gian đó, chủ yếu là đi trinh sát, nắm bắt hướng Thanh Thủy.
Hướng thị sát sơ bộ gồm: hang Lạng Lò 2 tầng, suối chảy ngày đêm 24 trên 24, tiện cho việc vận tải, tắm rửa; cơm canh tối đưa lên chốt cho bộ đội. Bên trái, đến ngã ba Thanh Thủy có hang Dơi, hang Chuột.
Từ ngã ba Thanh Thủy đi hướng sông Lô, bên phải là cao 123, bên trái là đồi Đài; ở phía Tây là đồi Chuối, cầu Thiên Bảo qua sông Lô, thị trấn Mông Thủy, nông trang toàn bắp cải, su hào thuộc tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Tết năm 1986, ăn Tết cùng đơn vị trên Bình Vàng, xã Đạo Đức, Vị Xuyên. Từ tháng 2 năm 1986, ta chuyển hướng từ Thanh Thủy sang Không Tên.
Lưu ý: Hướng Thanh Thủy chủ yếu là núi đá nên ngày 12 tháng 7 năm 1984, Trung Quốc đưa hàng sư đoàn, pháo địch tấn công 773, 680, 468 nên mới có tên gọi “Lò vôi thế kỷ”, “Cối xay thịt”. Riêng ngày 12 tháng 7 năm 1984, ta hy sinh gần 2.000 đồng chí liệt sĩ, theo số liệu báo cáo của Ban Chính sách. Có đơn vị lấy ngày 12 tháng 7 năm 1984 là ngày giỗ trận hằng năm.
Hướng Không Tên toàn đồi đất, cây bương rất to. Hướng này ném chạm nổ không an toàn. Hướng này có bình độ 1509, điểm cao 1545. Đặc công chủ yếu tập trung điểm cao 1509. Tôi và Bích, Lanh đi trinh sát để tổ chức đánh 1509.
Đến 18 giờ ngày 08 tháng 8 năm 1986, tôi đạp phải mìn 625A, mìn đè nổ. Tôi bị thương và được đồng đội đưa về tuyến sau: Viện Hà Giang, Viện 93, Viện 106, Đoan Hùng, Vĩnh Phúc.
Năm 1987, về Bộ Tư lệnh Đặc công, nằm ở C2 Chính sách. Tháng 10 năm 1988, giám định thương tật 71%, thương binh loại 2.
Ngày 6 tháng 6 năm 1989, phục viên về quê, làm Ban Chấp hành Hội Cựu chiến binh lâm thời. Đến 20 tháng 12 năm 1991, làm khuyến học, Hội Cha mẹ học sinh đến 2006. Do ốm nên làm đơn xin nghỉ đến nay.

Huân chương Chiến sĩ vẻ vang được Nhà nước tặng thưởng CCB Nguyễn Trung Thu trong thời gian phục vụ quân đội. Ảnh: NVCC.
Từ ngày về phục viên, do bị thương mất một chân nên cuộc sống rất vất vả, làm ăn khó khăn. Cũng may mắn cho tôi có người vợ chính là cô bạn học thời phổ thông cùng quê. Vợ tôi tên là Hồ Thị Trang, cùng sinh năm 1961. Vợ tôi nhập ngũ tháng 4 năm 1981, thuộc Quân đoàn 2, tại ngũ đến tháng 2/1984 ra quân.
Năm 1984, tôi về phép và tình cờ gặp lại cô bạn học. Chúng tôi đã thành đôi.
Vợ chồng tôi sinh được 3 cháu gái. Con gái đầu học Đại học Sư phạm Huế, khoa Sinh; con gái thứ hai học Đại học Kinh tế Đà Nẵng; con gái thứ ba học Đại học Ngoại thương Hà Nội, khoa Thương mại quốc tế.
Năm 2024, ba cháu xây cho vợ chồng tôi căn nhà này đây, anh ạ.
Tôi nói với vợ chồng Thu:
– Hạnh phúc của ông bà lúc về già là đây chứ đâu nữa. Bản thân tôi mơ cũng không có được ngôi nhà như thế này.
Sau 40 năm bỏ nghề trinh sát, ông bạn có thể nhớ và vẽ lại cho tôi sơ đồ các vị trí lúc các đồng đội đi trinh sát mục tiêu tại Vị Xuyên trước khi bị thương không?
Hắn nhanh nhảu lấy giấy bút ra. Khoảng 20 phút viết, vẽ, xóa rồi hắn cũng vẽ ra sơ đồ khu vực Thanh Thủy mà hắn đã từng đêm dò dẫm, bám nắm mục tiêu về báo cáo cho cấp trên.
Quả Thu Cụt không hổ danh là lính trinh sát đặc công.

Sơ đồ khu vực trinh sát, điều nghiên tại Vị Xuyên do CCB Nguyễn Trung Thu vẽ. Ảnh: NVCC.
Chiến tranh đã lùi xa, không nói về chiến tranh nữa. Ngồi trước tôi là cựu chiến binh, thương binh dũng cảm ngày nào.
Ôm tôi, Thu cười to trước lúc chia tay rồi nói:
– Tôi nay lúc nhớ, lúc quên. Nhưng anh, đồng đội vào thăm thằng Thu Cụt này thì nó luôn nhớ, không bao giờ quên. Những đồng đội đã cùng tôi trong những ngày tháng bám giữ đất Vị Xuyên thì tôi không bao giờ quên.
Nguồn VHPT: https://vanhoavaphattrien.vn/mot-thoi-la-linh-trinh-sat-dac-cong-a34938.html

