Minh bạch xuất xứ để khẳng định uy tín hàng Việt
Theo PGS.TS Đinh Công Hoàng - Nghiên cứu viên cao cấp, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, minh bạch xuất xứ và nâng giá trị thực tạo ra tại Việt Nam là cách để doanh nghiệp giảm rủi ro trung chuyển, củng cố niềm tin của các thị trường xuất khẩu và vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
PV: Mới đây, Hoa Kỳ đưa Việt Nam vào Tier 2 (cấp độ 2) trong danh sách các nền kinh tế có quy mô lớn và hội nhập sâu với Trung Quốc, được xác định là có rủi ro cao về trung chuyển hàng hóa. Xin ông cho biết vấn đề này nên được nhìn nhận như thế nào?

PGS.TS Đinh Công Hoàng
PGS.TS Đinh Công Hoàng: Trước hết, cần khẳng định đây là một cảnh báo quản lý rủi ro, chưa phải kết luận Việt Nam vi phạm. Báo cáo của Nhà Trắng phân nhóm hơn 40 nền kinh tế để xác định nơi cần tăng cường theo dõi; đồng thời thừa nhận sự dịch chuyển thương mại sau năm 2018 có cả phần hợp pháp, như đầu tư mới, chuyển đơn hàng và thay đổi nguồn cung. Vì vậy, Tier 2 phản ánh mức độ giám sát rủi ro cao hơn, chứ chưa phải là một kết luận về hành vi vi phạm thương mại.
Tuy nhiên, cảnh báo này cần được tiếp nhận nghiêm túc. Trong thương mại hiện đại, chỉ riêng việc bị đánh giá có rủi ro cao hơn cũng có thể làm tăng chi phí: nhà nhập khẩu yêu cầu nhiều hồ sơ hơn, thời gian thông quan kéo dài, điều khoản hợp đồng chặt hơn, thậm chí đơn hàng dịch chuyển sang nguồn cung dễ kiểm chứng hơn. Doanh nghiệp có thể phải trả một “chi phí rủi ro xuất xứ” ngay cả khi cuối cùng không bị kết luận vi phạm.
Cơ cấu thương mại của Việt Nam lý giải vì sao chúng ta dễ bị chú ý. Năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 930,05 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 475,04 tỷ USD; khu vực FDI chiếm 77,3% kim ngạch xuất khẩu và hàng công nghiệp chế biến chiếm 88,7%. Theo Cơ quan Thống kê Hoa Kỳ, Hoa Kỳ nhập khẩu 193,88 tỷ USD hàng hóa từ Việt Nam trong năm 2025, tăng mạnh so với 136,32 tỷ USD năm 2024.
Trong 7 tháng năm 2026, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với mức xuất siêu 91,4 tỷ USD, còn Trung Quốc là nguồn nhập siêu lớn nhất với 93 tỷ USD. Các con số này không chứng minh gian lận, chúng cho thấy Việt Nam đang nằm ở điểm giao của một chuỗi cung ứng khu vực rất lớn: nhập nhiều máy móc, linh kiện và nguyên liệu để sản xuất, sau đó xuất khẩu sang các thị trường chủ chốt.
Điều quan trọng là phải phân biệt ba hiện tượng. Thứ nhất, chuyển hướng đơn hàng: hàng trước đây đặt ở Trung Quốc nay được sản xuất thực sự tại Việt Nam. Thứ hai, chuyển dịch đầu tư: vốn, máy móc, công nghệ và công đoạn sản xuất được đưa vào Việt Nam. Đây là những phản ứng kinh tế bình thường. Thứ ba mới là chuyển tải bất hợp pháp: hàng hóa gần như không thay đổi nhưng được thay nhãn, thay chứng từ hoặc khai sai xuất xứ để né thuế. Chính sách phải ngăn chặn hiện tượng thứ ba nhưng không được đánh đồng với hai quá trình hợp pháp đầu tiên.
Vì vậy, cách ứng xử phù hợp là bình tĩnh, hợp tác và có nguyên tắc: không phủ nhận cảnh báo, cũng không tự quy kết. Việt Nam cần nâng cấp quản trị xuất xứ, xử lý nghiêm hành vi lợi dụng lãnh thổ Việt Nam, đồng thời chủ động chứng minh bằng dữ liệu rằng tăng trưởng xuất khẩu chủ yếu dựa trên năng lực sản xuất có thật. Làm được như vậy, cảnh báo này có thể trở thành động lực để nâng uy tín hàng Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Minh bạch xuất xứ và nâng giá trị thực tạo ra tại Việt Nam là cách để doanh nghiệp giảm rủi ro trung chuyển. Ảnh: Đức Thanh
PV: Việt Nam là một trong những điểm đến được hưởng lợi từ xu hướng China +1. Ranh giới giữa một chuỗi cung ứng China+1 lành mạnh với mô hình chỉ chuyển tải hàng hóa để né thuế nằm ở đâu, thưa ông?
PGS.TS Đinh Công Hoàng: Ranh giới không nằm ở quốc tịch của dòng vốn, cũng không nằm ở việc doanh nghiệp có sử dụng đầu vào từ Trung Quốc hay không. Trung Quốc là nguồn cung lớn về máy móc, linh kiện và nguyên liệu cho cả châu Á; việc sử dụng các đầu vào đó là bình thường trong chuỗi giá trị toàn cầu. Ranh giới nằm ở mức độ sản xuất thực, rủi ro kinh doanh mà nhà đầu tư chịu và giá trị thực sự được tạo ra tại Việt Nam.
Một chuỗi China+1 lành mạnh có vốn cố định và thiết bị thật, năng lực kỹ thuật thật, quy trình sản xuất làm thay đổi đáng kể sản phẩm, dữ liệu công suất có thể kiểm chứng và đóng góp ngày càng rõ cho kinh tế trong nước. Ngược lại, mô hình rủi ro cao thường nhập hàng gần hoàn chỉnh, chỉ lắp ráp rất đơn giản hoặc tái đóng gói; thời gian lưu tại Việt Nam ngắn; lao động, máy móc và năng lượng không tương xứng; sản lượng xuất khẩu vượt xa công suất có thể giải thích.
PV: Nếu rủi ro trung chuyển trở thành một yếu tố thường xuyên trong cách Hoa Kỳ đánh giá hàng hóa Việt Nam, theo ông, Việt Nam cần ưu tiên giải pháp nào trong ngắn và trung hạn để bảo vệ uy tín xuất xứ?
PGS.TS Đinh Công Hoàng: Theo tôi, đã đến lúc hướng tới “Sản xuất tại Việt Nam, có thể kiểm chứng”. Tuy nhiên, đây phải là năng lực quản trị thực chất, không phải một khẩu hiệu hay một loại tem hành chính mới. Uy tín xuất xứ là tài sản chung: chỉ một số doanh nghiệp gian lận cũng có thể làm tăng mức kiểm tra, thời gian thông quan và chi phí cho cả ngành hàng.
Trong giai đoạn trước mắt, cần thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành thường trực; lập danh sách được cập nhật thường xuyên về các mã hàng, doanh nghiệp và tuyến thương mại có rủi ro cao; kiểm tra có trọng tâm năng lực sản xuất, xử lý nghiêm hành vi khai sai; đồng thời ban hành bộ hồ sơ mẫu theo từng ngành để doanh nghiệp biết phải lưu giữ và xuất trình dữ liệu gì. Cần dành nguồn lực cho điểm nóng, tránh kiểm tra dàn trải gây thêm chi phí cho doanh nghiệp tuân thủ tốt.
Xây dựng “vốn” quốc gia từ xuất xứ hàng Việt
Theo PGS.TS Đinh Công Hoàng, “Made in Vietnam” trong giai đoạn mới phải đi cùng câu trả lời có dữ liệu cho 3 câu hỏi: sản xuất ở đâu, chuyển đổi như thế nào và ai chịu trách nhiệm về tính xác thực. Khi có thể trả lời rõ ràng 3 câu hỏi đó, uy tín xuất xứ sẽ trở thành một dạng vốn quốc gia và là lợi thế cạnh tranh bền vững của hàng Việt Nam.
Trong trung hạn, Việt Nam cần vận hành nền tảng dữ liệu rủi ro xuất xứ; chuẩn hóa hồ sơ sản xuất số theo mã lô; hình thành cơ chế kiểm toán độc lập đối với trường hợp rủi ro cao; tạo luồng ưu tiên cho doanh nghiệp có lịch sử minh bạch; và ban hành hướng dẫn theo ngành về công đoạn sản xuất, bằng chứng cần thiết cùng các tình huống thường bị nghi ngờ. Hiệp hội ngành hàng nên có trung tâm tuân thủ dùng chung để hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Về dài hạn, giải pháp căn cơ vẫn là tăng giá trị thực tạo ra tại Việt Nam: phát triển công nghiệp hỗ trợ, nhà cung cấp trong nước, thiết kế, nghiên cứu - phát triển, lao động kỹ năng cao, kiểm nghiệm và dịch vụ hậu cần. Khi doanh nghiệp thực hiện nhiều công đoạn có giá trị hơn tại Việt Nam, việc chứng minh xuất xứ trở nên tự nhiên hơn và nền kinh tế cũng bớt phụ thuộc vào một nguồn đầu vào.
Ba chủ thể phải cùng chịu trách nhiệm. Nhà nước quản trị rủi ro, liên thông dữ liệu và bảo đảm quyền giải trình. Hiệp hội chuẩn hóa hồ sơ, đào tạo và cảnh báo theo mã hàng. Doanh nghiệp đưa yêu cầu xuất xứ vào hợp đồng mua nguyên liệu, quản trị nhà cung cấp, kho, sản xuất và hệ thống dữ liệu; không thể chờ đến khi hàng đã xuất mới giao toàn bộ trách nhiệm cho bộ phận xuất nhập khẩu.
Trong đối ngoại, Việt Nam cần tiếp tục trao đổi thẳng thắn, xây dựng và trên cơ sở lợi ích chung với Hoa Kỳ: cùng chống gian lận nhưng đề nghị đánh giá theo doanh nghiệp, mã hàng và bằng chứng cụ thể, không suy diễn chỉ từ thâm hụt thương mại hay quan hệ đầu vào với một nước thứ ba. Đồng thời, Việt Nam duy trì quan hệ kinh tế bình thường, cùng có lợi với các đối tác, trong đó có Trung Quốc, trên cơ sở tuân thủ pháp luật Việt Nam và luật lệ thương mại quốc tế.
PV: Xin cảm ơn ông!
