Khúc hát thầm của Lê Thái Sơn
Có vẻ bề ngoài cao to, đầy lãng tử, nhưng tính cách nhà thơ Lê Thái Sơn thì như một lão nông trầm ấm, chân tình. Ông sống giản dị và quê kiểng đến độ xe máy cũng không biết đi. Bởi ông thường đi bộ nên ông quan sát kỹ những mảnh đời cơ cực và ông đưa họ vào thơ bằng tất cả sự chân thật, để cất lên những 'khúc hát thầm'…
Có vẻ bề ngoài cao to, đầy lãng tử, nhưng tính cách nhà thơ Lê Thái Sơn thì như một lão nông trầm ấm, chân tình. Ông sống giản dị và quê kiểng đến độ xe máy cũng không biết đi. Bởi ông thường đi bộ nên ông quan sát kỹ những mảnh đời cơ cực và ông đưa họ vào thơ bằng tất cả sự chân thật, để cất lên những “khúc hát thầm”…


Nhà thơ Lê Thái Sơn sinh ra và lớn lên ở một làng quê nổi tiếng hào hoa, phong nhã, đặc biệt là tài hoa về văn chương, đó là làng Đông Phái, xã Diễn Hoa, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An (cũ). Những năm tháng học trò, ông học giỏi các môn tự nhiên, đặc biệt là môn Vật lý. Thế nhưng, bởi sống trong một vùng quê mà ai cũng có thể ứng khẩu thành thơ, nên văn chương cứ thế thản nhiên vận vào người ông. Rồi lớn lên, sức khỏe không đảm bảo để đi bộ đội như các bạn cùng trang lứa, ông đã không ngần ngại đăng ký thi vào khoa Văn – Đại học Tổng hợp Hà Nội. Và từ đó, thơ ca cứ cùng ông đập thổn thức cho đến cuối cuộc đời.

Làng quê ấy in dấu trong thơ ông như một chứng nhân mộc mạc mà bền bỉ: chợ Chùa, giếng Cầu, sông Bùng, lèn Hai Vai… - những tên gọi thân thuộc trở thành tọa độ của ký ức, của thương mến, của những trăn trở về phận người. Nhà phê bình Hà Quảng trong cuốn “Đến với thơ đương đại”, đã dành cho nhà thơ Lê Thái Sơn những lời ưu ái: “Thơ Sơn không thuộc dạng rốt ráo câu chữ, xô bồ hình ảnh, triết lý xa xôi trong quỹ đạo hiện hành. Thơ anh chân thật như vắt ra từ tim, từ cõi lòng…”. Có lẽ vậy, nên người đọc dễ nhận ra ở thơ Lê Thái Sơn một giọng nói tin cậy: Không ồn ào, không làm dáng, không cầu kỳ thi pháp, mà lặng lẽ, chân thành, như cách một người quê bộc bạch chuyện đời mình: Nhà tôi ăn nước giếng Cầu/ Gánh bằng bộng đất, múc gầu bằng mo. (Giếng Cầu)

Đọc thơ Lê Thái Sơn, bạn đọc sẽ có phần thú vị bởi chất dân gian khá nhiều. Vốn sống và sự trải nghiệm trong mạch nguồn văn hóa dân gian xứ Nghệ đã làm cho thơ của ông đích thực là thơ của một người Nghệ. Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo – đồng hương, đồng môn và là tri kỷ của nhà thơ Lê Thái Sơn, khi viết đề tựa cho tập thơ “Tháng Giêng xanh”, đã khẳng định: “Tôi thấy con người nhà quê trong anh thật dồi dào, tươi tốt. Hầu như mọi dây rợ tình cảm của anh đều buộc dính với làng quê, và chỉ khẽ chạm vào một sợi dây nào đấy là cây đàn thơ trong anh lại rung lên những cung bậc tràn đầy thương cảm”. Những cung bậc ấy dẫu rất dễ rung lên, nhưng gói trong đó là những khúc hát thầm của tác giả: Áo đen. Và mũ khăn đen/ Thêm đen mắt ướt cài then một đời (Đa đoan).



Khác hẳn cái vẻ phong trần thường thấy, trong thơ Lê Thái Sơn là những nỗi niềm với người nghèo khổ, dưới đáy xã hội. Đó là một em bé ăn xin, một anh đạp xích lô, một người đào huyệt thuê, một anh đóng gạch, cửu vạn, thậm chí là một tù nhân… Rồi bạn văn cũng chẳng ngần ngại để ví ông là “Chàng thi sĩ của những người nghèo khổ”. Âu cũng là một khúc hát thầm rất riêng của nhà thơ Lê Thái Sơn trong một thế giới mà đồng tiền luôn xoay vần nghiệt ngã. Bài “Thơ vui tặng bạn đạp xích lô” nồng ấm như một cái vỗ vai, như một nụ cười dòn xua đi mệt mỏi: “Thuộc đường như thuộc bàn tay/ Nhắm bắt cũng biết ngõ này hẻm kia/ Ngủ mà như vểnh tai nghe/ Tiếng còi những chuyến tàu về ngoài ga”.
Ở mảng thơ thiếu nhi, Lê Thái Sơn chọn lối đi riêng, ông viết cho những đứa trẻ có hoàn cảnh đặc biệt hoặc bị đặt ra ngoài đường ray an toàn của đời sống. “Quê nội” là bài thơ chan chứa nỗi lòng khi một đứa cháu “ngoài giá thú” chưa từng được về bên nội: Con chỉ biết quê nội/ Qua lời của bố thôi. Và hai câu thơ trong bài “Những mùa hoa đại trắng/ Tiếng mõ chừng cũng thơm” đã bay lên bầu trời Ngày Thơ Việt Nam năm 2003, và hai mươi năm sau, vẫn tiếp tục được trưng bày trên Đường thơ ở Hoàng thành Thăng Long. Có lẽ bởi ở đó, người ta nghe thấy một thứ hương: Hương của sự tử tế, hương của tiếng mõ chùa năm xưa, hương của sự bao dung mà thơ ông chưng cất trong cả hành trình.
Sinh thời, nhà thơ Lê Thái Sơn sống hiền hậu, hết mình vì bạn bè. Khoảng thời gian từ năm 1997 - 2005, khi là chủ tịch Hội Liên hiệp VHNT Nghệ An, căn phòng làm việc của ông luôn mở cửa, đón nhận những niềm vui bầu bạn và thơ ca. Ông không câu nệ ai đến với mình, già hay trẻ, giàu hay nghèo, miền xuôi hay miền núi, người phố hay người quê, lãnh đạo hay người làm thuê, miễn là có tâm sự với thơ. Không ít cây bút trẻ sau này được ghi nhận từ những buổi “trà đàm văn chương” như vậy. Và ở đấy, người đàn ông có vẻ phong trần ấy lại hiện ra như một “lão nông chữ nghĩa” quê kiểng mà tinh tế.

Các tập thơ của nhà thơ Lê Thái Sơn.


Nhà thơ Lê Thái Sơn đã đặt “Dấu hỏi tuổi năm mươi” cho một người làm thơ: Làm thơ cho ai? Ai sẽ đọc? Người thơ sẽ ra sao khi mắt mờ, chân chậm: “Khi mắt đã không còn tinh tỏ nữa/ Lưng đã như một dấu hỏi dưới trời/ Minh vẫn chưa thật rõ mình là ai/ Nhạt nhạt nắng, mù mù mây vần vũ”. Ngay cả khi tự vấn chính mình, ông cũng nhận ra những số không vắt ngang qua đời, là chỉ để thương hơn một chữ thương, cảm ơn cuộc đời đã cho ông lưu trú với thơ ca mà không hề đòi hỏi bất cứ thứ gì: “Tôi như mẩu thịt thừa/ Vô cớ được yêu thương chiều chuộng/ Vô cớ được thành người có học/ Số không tôi tròng ngang cổ tôi rồi” (Điệp khúc số không).

(Tranh sơn dầu của Phương Bình)
Về thơ tình, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo đã từng nói về sự tươi mới của Lê Thái Sơn: Hai con người già và trẻ trong Lê Thái Sơn đã cùng đồng nhập vào thơ vào văn anh để nó luôn tươi mới như tình yêu không ngừng nghỉ. Có nhiều người làm thơ tình, nhưng thơ tình của Sơn thường làm nổ tung những bí mật tâm hồn.

Một người đậm chất dân gian như Lê Thái Sơn, ắt hẳn sẽ mặn mà với các thể thơ truyền thống như lục bát, song thất lục bát, và ông cũng được đánh giá là thành công với thể thơ này qua một số giải thưởng chuyên đề. Cứ tưởng, suốt cả hành trình thơ ca, ông dễ trở nên cũ kỹ, nhưng lạ thay, khi càng có tuổi, ông lại làm bạn bè ngỡ ngàng với sự đổi mới với thể thơ tự do, mà tuyệt nhiên, không đao to búa lớn, không câu chữ cầu kỳ. Vẫn là một Lê Thái Sơn nồng hậu của chữ tình và sự nhạy cảm, tinh tế trong thơ: Những câu thơ của em/ Như những chớp sáng/ Từ vầng sáng của ánh chớp ấy, hiện ra/ Mềm mượt cỏ/ Rạng rỡ hoa/ Căng mọng quả (Chớp sáng)
Càng có tuổi thì nhà thơ Lê Thái Sơn lại viết trẻ hơn cả về đối tượng thẩm mỹ cũng như thi pháp. Lại nữa, khi trọng bệnh thì lại viết đầy lạc quan, yêu đời và tạ ơn cuộc sống. Ông trân quý từng phút giây, ông lắng nghe từng cảm xúc, ông nâng niu từng con chữ… Chỉ còn 3 ngày cuối cùng trên nhân gian với sự hỗ trợ của máy móc, ông vẫn nói với cô con gái thứ: Con ơi, bố vừa làm được mấy câu thơ, con ghi lại dùm bố nhé, rồi hai hàng nước mắt ông chảy dài, ông đọc chậm rãi: “Gom lại thơ một đời/ Cuốn sách thành ngôi mộ/ Các con ơi, từng trang/ Gói ghém hồn cốt bố”.
Là một người thủy chung với văn hóa xứ Nghệ và là một người yêu thơ hơn cả bản thân mình, khép lại cuộc đời và những khúc hát thầm của mình, thì vẫn còn những người đọc và viết về thơ Lê Thái Sơn, đó mới là địa chỉ cuối cùng của hành trình sáng tạo: Cảm ơn những câu thơ/ Đã cho ta thêm một lần may mắn/ Được hiện ra/ Cùng chớp sáng/ Và tan…


Nguồn Nghệ An: https://baonghean.vn/khuc-hat-tham-cua-le-thai-son-10309868.html











