Hình ảnh ngựa trong văn học trung đại

Trong dòng chảy văn học trung đại, hình ảnh con ngựa không chỉ là phương tiện di chuyển thuần túy. Ngựa mang trong mình chiều sâu biểu tượng: nhịp chân của lịch sử, tiếng vó của chia ly, bụi đường quan lộ và khí phách của kẻ sĩ. Ở tầng cao hơn, đó còn là hình ảnh ẩn dụ cho một đất nước qua từng thời đại. Nhân dịp năm mới, chúng tôi có cuộc trò chuyện với nhà nghiên cứu Trần Mạnh Cường, hiện công tác tại Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An thuộc Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An.

 Trong văn học trung đại, ngựa không chỉ là phương tiện, mà còn là biểu tượng lịch sử, chia ly và khí phách kẻ sĩ.

Trong văn học trung đại, ngựa không chỉ là phương tiện, mà còn là biểu tượng lịch sử, chia ly và khí phách kẻ sĩ.

Theo nhà nghiên cứu Trần Mạnh Cường, trong mảng văn chương gắn với sự nghiệp giữ nước của cha ông, ngựa xuất hiện trước hết như biểu tượng của tốc độ, binh đao và vận mệnh quốc gia. Hai câu thơ nổi tiếng của Trần Nhân Tông sau chiến thắng Bạch Đằng: “Xã tắc hai phen chồn ngựa đá; Non sông nghìn thuở vững âu vàng” là một cách “nói chuyện lớn” rất tiêu biểu của thời đại.

“Ở đây, “ngựa đá” không hí vang, không phi nước đại, chỉ đứng im mà vẫn “mệt”. Cái mệt của tượng ngựa thực chất là cái mệt của xã tắc sau hai phen binh lửa, hai lần dựng lại trật tự. Đặt “thạch mã” bên “kim âu”, nhà vua tạo nên một thế đối tinh tế: ngựa kéo theo ký ức quốc nạn, còn âu vàng neo lại ý thức về một nền vững bền thiên cổ. Ngựa chiến thắng, nhưng cũng là ngựa của vết thương”, anh Cường phân tích.

 Hình ảnh ngựa trong Chinh phụ ngâm lại nghiêng hẳn về phía thương cảm: “Dòng nước sâu ngựa nản chân bon…”; “Tên reo đầu ngựa giáo dan mặt thành…”, cho thấy ngựa là chiếc bản lề chuyển cảnh, từ lòng người ở hậu phương sang bước chân người nơi sa mạc gió cát.

Hình ảnh ngựa trong Chinh phụ ngâm lại nghiêng hẳn về phía thương cảm: “Dòng nước sâu ngựa nản chân bon…”; “Tên reo đầu ngựa giáo dan mặt thành…”, cho thấy ngựa là chiếc bản lề chuyển cảnh, từ lòng người ở hậu phương sang bước chân người nơi sa mạc gió cát.

Sang văn chính luận, hình ảnh ngựa mang giọng điệu đanh gọn, giàu sức công kích. Trong Bình Ngô đại cáo, những tướng giặc được “cấp thuyền”, “phát ngựa” mà vẫn hồn bay phách lạc. Ngựa lúc này không còn là khí giới của anh hùng, mà trở thành đạo cụ của nỗi nhục bại trận. Cùng một con vật, nhưng ngựa của chính nghĩa khác hẳn ngựa của phi nghĩa một ranh giới đạo lý rất đậm chất Việt Nam.

Nếu nhắc đến một “câu ngựa” quen thuộc với nhiều thế hệ, đó là hình ảnh trong Hịch tướng sĩ, tinh thần xả thân được khắc bằng thứ ngôn ngữ quân lệnh mà vẫn chứa chan cảm xúc: “Nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng”. Môt hình ảnh vừa cổ lại vừa thực, bởi ngựa là bạn đường của binh gia, nên cái chết cũng gắn liền với vó ngựa. Hay như, trong Chinh phụ ngâm, ngựa lại nghiêng hẳn về phía thương cảm: “Dòng nước sâu ngựa nản chân bon…”; “Tên reo đầu ngựa giáo dan mặt thành…”, cho thấy ngựa là chiếc bản lề chuyển cảnh, từ lòng người ở hậu phương sang bước chân người nơi sa mạc gió cát. Chỉ một chữ “ngựa” mà ta nghe được cả độ dài của chiến địa (muôn dặm), độ dày của khổ ải (gió lạnh, nước sâu), và độ mỏi của kiếp người (chồn, nản, dãi dầu). Nếu trong thơ chiến thắng, ngựa là tiếng vó của hào hùng, thì trong ngâm khúc, ngựa là tiếng vó của mỏi mòn đau đáu.

“So sánh với thơ Đường Trung Hoa nơi chiến mã thường gắn với biên tái, cát tuyết có thể thấy văn học trung đại Việt Nam luôn “kéo” ngựa về gần đạo lý lịch sử. Không chỉ tả cảnh, thơ Việt còn đặt câu hỏi: đánh để làm gì, máu này đổi lấy điều gì cho sông núi. Vì thế, ngựa thường đi cùng những từ khóa như xã tắc, sơn hà, trung hiếu, nước nhà”, nhà nghiên cứu Trần Mạnh Cường so sánh.

Ngựa của sứ trình và quan lộ

Cũng theo nhà nghiên cứu Trần Mạnh Cường, ngoài chiến chinh, ngựa xuất hiện dày đặc trong thơ đi sứ, đi trấn nhậm một mảng rất phong phú của văn học trung đại Việt Nam. Ở đây, ngựa ít khi là chiến mã, mà là ngựa đường dài: biết mệt, biết dừng, kéo theo nắng chiều và chén rượu biệt ly. Danh sĩ Nguyễn Trung Ngạn viết: “Tạm biệt kinh thành đi sứ Hoa; Bên đình dừng ngựa nắng chưa tà.”. Chỉ hai chữ “trú mã” đã dựng được cả không khí: một đình vắng, mặt trời chưa xế, người lên đường tạm dừng cương và cái dừng ấy làm hiện hình nỗi xa xôi. Trong thơ sứ trình, ngựa không cần “phi” chỉ cần đứng lại là đủ gợi ra cái vực giữa chân trời và góc bể.

 Cũng theo nhà nghiên cứu Trần Mạnh Cường, ngoài chiến chinh, ngựa xuất hiện dày đặc trong thơ đi sứ, đi trấn nhậm một mảng rất phong phú của văn học trung đại Việt Nam.

Cũng theo nhà nghiên cứu Trần Mạnh Cường, ngoài chiến chinh, ngựa xuất hiện dày đặc trong thơ đi sứ, đi trấn nhậm một mảng rất phong phú của văn học trung đại Việt Nam.

Cũng theo hướng đó, những nhà Nho như Phạm Hy Lượng, Trần Bích San… đều cho thấy “ngựa” là một đơn vị đo tâm trạng. “Tẩu mã hoài hương tục” làm chúng ta liên tưởng thú vị: ngựa chạy mà lòng thì quay về phong tục quê nhà; càng đi nhanh, nhớ càng rõ. Nho sĩ Lê Quả Dục thì dùng “xa trần mã tích” để tả Hà Nội đổi khác: bụi xe, vết ngựa “huyên thiên địa”, bởi ngựa lúc này là dấu chân của đô hội hóa, của biến động xã hội, của một thời cuộc khiến người về thăm chốn cũ mà “cựu du vô xứ”.

Đặc biệt, trong thơ và phú cuối Lê đầu Nguyễn, khi ý thức “thời thế” trở nên nhức nhối, ngựa càng hay được kéo vào những câu cảm hoài. Nho sĩ Lê Quýnh trong bài Bắc Sở tự tình phú có nhắc “bể bắc chưa sinh sừng ngựa” như một điển cố kiểu “bao giờ cho đến bao giờ”, rồi lại tự trấn an: “dẫu gọi mình là trâu là ngựa…”. Ngựa ở đây không còn là con vật cụ thể nữa, mà thành thước đo của nhẫn nhục, khí tiết và nỗi lưu đày nơi đất khách. Đối chiếu sang hai quốc gia đồng văn là Nhật Bản và Triều Tiên, ta cũng gặp “ngựa đường xa” nhưng sắc thái khác. Thơ haiku Nhật thường “tiết kiệm” hình ảnh: chỉ một bóng ngựa cũng đủ làm bật mùa và khoảnh. Còn thơ Triều Tiên rất chuộng không khí “dịch quán sứ lộ” giống nước ta, nhưng thường nhấn mạnh lễ nghi, quy củ và tâm thế “trung quân” trong quan hệ triều cống. Thơ đi sứ Việt Nam thì bên cạnh quy phạm, vẫn hay chảy tràn một mạch tự tình, thậm chí “ngang” và “ngông” khi mà ngựa chở không chỉ thân phận, mà chở cả cái tôi.

Ngựa trong triết lý sống

Nếu chiến chinh làm ngựa gầm lên, quan lộ làm ngựa mỏi, thì ẩn dật lại làm ngựa… biến mất. Nhưng chính sự vắng mặt ấy lại là một cách hiện diện đầy ý nghĩa. Bài “Ẩn giả” của Thái Thuận có câu: “Môn vô xa mã thảo thường xuân”. Không xe ngựa nghĩa là không quan khách, không vòng danh lợi, cỏ trước ngõ vì thế “thường xuân”. Ngựa ở đây là ký hiệu của phồn hoa. Muốn nói “ta đã rời bụi đỏ”, nhưng ông chỉ cần nói: nhà ta không còn vết xe, dấu ngựa. Một nét bút, mà dựng được cả một hệ giá trị đối lập: tục - thanh, tĩnh - động, đủ -thiếu. Ngựa không còn là “mã” của chiến trường, mà là “mã” của xã hội, tức cái thứ ồn ào mà người ta lựa chọn bước ra.

 Ngựa giúp văn chương Việt nối vào mạch biểu tượng Đông Á (thiên lý mã, sứ lộ, dịch quán, biên tái), nhưng vẫn giữ giọng riêng.

Ngựa giúp văn chương Việt nối vào mạch biểu tượng Đông Á (thiên lý mã, sứ lộ, dịch quán, biên tái), nhưng vẫn giữ giọng riêng.

Ngay cả khi không nói thẳng chữ “mã”, văn Nôm trung đại cũng đầy “xe ngựa” như một cách nói về trật tự giai tầng và nhịp sống đô hội. Trong Truyện Kiều, “xe ngựa” vừa là phông nền của hội hè, vừa là dấu hiệu quyền thế, vừa là tiếng động của cuộc đời đẩy người đi. Cái hay là: trong văn chương Việt, hình ảnh ngựa thường mang theo âm thanh (tiếng hí, tiếng roi, tiếng vó) và bụi (xa trần). Nó khiến thế giới trung đại không chỉ “đẹp như tranh”, mà còn ồn và thật, có hơi thở của đời sống thường nhật.

Ngựa giúp văn chương Việt nối vào mạch biểu tượng Đông Á (thiên lý mã, sứ lộ, dịch quán, biên tái), nhưng vẫn giữ giọng riêng: thường quy về đạo lý sơn hà, nỗi nhớ cố quốc và tình thế cụ thể của một dân tộc nhiều lần chống xâm lăng. Và đặc biệt, bài thơ “Đề bức tranh Đường Minh Hoàng tắm ngựa”, chúng ta thấy tác giả Chu Đường Anh đã vạch rõ một lát cắt trực diện vào toàn bộ “huyền thoại về ngựa”: ngựa có thể đẹp đến mê người, quý đến mức được tắm rửa, dắt sát thềm son; nhưng đẹp và quý đến đâu cũng chỉ là cái ngọn.

 Nhà nghiên cứu Trần Mạnh Cường (bên phải) trong một lần nghiên cứu về Đạo sắc phong có liên quan tới người vẽ bản đồ Hoàng Sa Trường Sa năm 1774.

Nhà nghiên cứu Trần Mạnh Cường (bên phải) trong một lần nghiên cứu về Đạo sắc phong có liên quan tới người vẽ bản đồ Hoàng Sa Trường Sa năm 1774.

Bởi, văn chương cuối cùng thì vẫn quay về một điểm rất giản dị: con người luôn là gốc. Ngựa có thể là chiến công, là công danh, là phồn hoa, là tốc độ của thời thế; nhưng tất cả chỉ có ý nghĩa khi nó phục vụ cho một điều căn bản hơn: làm cho lòng người bớt nhàu, lê dân bớt khổ. Một triều đại biết “yêu người”, một nền văn hóa biết “trọng người”, thì tiếng vó ngựa mới không hóa thành tiếng dẫm nát; và bụi “xa trần mã tích” mới không che mờ đi gương mặt của dân. Văn học trung đại Việt Nam vì thế có thể gọi là chỉ 1 chữ Ngựa có thể kéo theo cả một thời đại.

daidoanket.vn

Nguồn Lào Cai: https://baolaocai.vn/hinh-anh-ngua-trong-van-hoc-trung-dai-post894087.html