Dấu ấn năm Ngọ
Năm Ngọ Canh (550): Sau khi Lý Nam Đế qua đời ở động Khuất Lão, vị tướng được ông ủy thác là Triệu Quang Phục, tự xưng Triệu Việt Vương, tiếp tục lập chiến khu kháng chiến ở đầm Dạ Trạch.
Năm 550, bất ngờ xuất quân, đánh tan quân nhà Lương, chém chết viên tướng chỉ huy Dương Sàn, lấy lại thành Long Biên, khôi phục nền độc lập cho nước Vạn Xuân.
Năm Canh Ngọ (970): Sau khi dẹp yên loạn 12 sứ quân, thống nhất quốc gia, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi xưng đế, đặt quốc hiệu Đại Cồ Việt, dựng kinh đô ở Hoa Lư, sáng lập vương triều nhà Đinh (968 - 980), đặt niên hiệu Thái Bình, cho đúc đồng tiền đầu tiên của Việt Nam (Thái Bình hưng bảo), khẳng định nền độc lập tự chủ về kinh tế, chính trị. Tuy chỉ tồn tại 12 năm nhưng có vị trí đặc biệt và đạt được những thành tựu to lớn, rất đáng tự hào trong tiến trình lịch sử dân tộc. Khi vua mất, bầy tôi dâng miếu hiệu Tiên Hoàng đế, chính sử ghi Đinh Tiên Hoàng.
Năm Nhâm Ngọ (1042): Vua Lý Thái Tông giao cho các đại thần biên soạn và ban hành bộ Luật Hình thư - bộ luật thành văn đầu tiên của nước ta, đáp ứng nhu cầu quản lý đất nước và xây dựng nhà nước pháp quyền, gồm 512 điều khoản về các tội danh, hình phạt và thủ tục tố tụng, thể hiện tính nhân văn, bảo vệ quyền lợi của người dân, là di sản văn hóa quý giá, đánh dấu bước tiến lớn trong quản lý, góp phần ổn định xã hội bằng pháp luật và thúc đẩy phát triển đất nước.
Năm Mậu Ngọ (1258): Sau chiến thắng quân Mông Cổ lần thứ nhất, vua Trần Thái Tông nhường ngôi cho Thái tử Hoảng (tức Trần Thánh Tông), khởi đầu chế độ Thái thượng hoàng, nhằm bảo đảm chuyển giao quyền lực êm đẹp, tránh tranh giành ngôi vị đẫm máu, bởi có sự bảo trợ của Thái thượng hoàng (đang sống), tạo sự kế thừa bộ máy hành chính không bị gián đoạn hoặc bất ổn khi vua cũ đột ngột qua đời, cũng nhằm đào tạo và thử thách năng lực vua mới, là sự kiện hết sức đặc trưng của nhà Trần.
Năm Nhâm Ngọ (1282): Hội nghị Bình Than. Trước sự xâm lược nước ta lần thứ 2 của quân Nguyên Mông do Thoát Hoan chỉ huy, vua Trần Nhân Tông tổ chức Hội nghị quân sự với các vương hầu, quan lại, tướng soái cao cấp để bàn kế hoạch chống giặc tại bến Bình Than trên sông Lục Đầu, nên gọi Hội nghị Bình Than. Trong hội nghị, vua trao quyền tổng chỉ huy quân đội cho Trần Quốc Tuấn (Trần Hưng Đạo); phục hồi chức tước cho danh tướng Trần Khánh Dư, cử làm phó đô tướng quân. Hội nghị gắn với giai thoại Trần Quốc Toản (Hoài Văn Hầu) - lúc ấy còn quá trẻ (khoảng 16 tuổi), không được phân công nhưng với lòng căm thù giặc, tức giận bóp nát quả cam trong tay khi nào không hay, sau đó về huy động lập quân đội, sắm vũ khí, thêu cờ với 6 chữ vàng: “Phá cường địch, báo hoàng ân”, chiến đấu lập công lớn trong trận Chương Dương, Hàm Tử (1285). Hội nghị đã thiết lập bộ chỉ huy tinh nhuệ, uy tín, có năng lực lãnh đạo, đánh thắng quân Nguyên Mông xâm lược vào những năm 1285 (lần 2) và 1288 (lần 3).
Năm Bính Ngọ (1426): Nghĩa quân Lam Sơn dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi giành thắng lợi trong trận Tốt Động - Chúc Động, tạo bước ngoặt quan trọng trong cuộc kháng chiến chống quân Minh.
Năm Mậu Ngọ (1858): Thực dân Pháp nổ súng tấn công vào cửa biển Đà Nẵng, chính thức mở ra cuộc chiến xâm lược và đô hộ nước ta, là bước ngoặt quan trọng với lịch sử dân tộc, cảnh báo sự suy yếu của nhà nước phong kiến Việt Nam để Nhân dân rơi vào cảnh nô lệ lầm than kéo dài hơn 80 năm - đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mới giành lại được chủ quyền.
Năm Canh Ngọ (1930): Một năm với những sự kiện lớn, đánh dấu mốc đặc biệt quan trọng với lịch sử dân tộc. Đó là việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930) tại Hương Cảng, Trung Quốc, lãnh đạo cách mạng dân tộc đem lại thắng lợi vẻ vang qua các thời kỳ. Cùng với phong trào yêu nước chống Pháp, năm 1930 có cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quốc dân Đảng ở Yên Bái nhưng thất bại. Đặc biệt là phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, cuộc đấu tranh lớn đầu tiên thể hiện sức mạnh đoàn kết liên minh công - nông tại Việt Nam.
Năm Nhâm Ngọ (1942): Trong chuyến công cán quốc tế, Hồ Chí Minh bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam vô cớ tại Quảng Tây, Trung Quốc. Thời gian này (1942 - 1943), Người đã sáng tác tập thơ bất hủ Nhật ký trong tù. Theo tiến sĩ ngôn ngữ học Võ Xuân Quế - hiện ở Phần Lan, bỏ công nghiên cứu sưu tầm (từ năm 2019 - 2025) đã tìm được 62 bản dịch bằng 37 ngôn ngữ tại 42 quốc gia, là một trong những tác phẩm văn học Việt Nam được dịch ra nhiều thứ tiếng nhất trên thế giới.
Năm Giáp Ngọ (1954): Với dấu mốc lịch sử “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, đó là chiến thắng Điện Biên Phủ, thực dân Pháp đầu hàng, ký kết Hiệp định Geneva, rút quân khỏi nước ta, lập lại hòa bình ở miền Bắc Việt Nam.
Năm Bính Ngọ (1966): Trong bối cảnh kháng chiến chống Mỹ ác liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước ngày 17/7, với câu nói bất hủ: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, là lời hịch thức tỉnh, hiệu triệu toàn dân, là lời của non sông đất nước, khát vọng hòa bình, hạnh phúc ấm no của người Việt Nam.
Nguồn Lâm Đồng: https://baolamdong.vn/dau-an-nam-ngo-423085.html











