Đánh thức tiềm năng du lịch biển hậu sáp nhập

Hậu sáp nhập là thời điểm để định vị lại du lịch biển Việt Nam khi ba nghìn cây số bờ biển tuyệt đẹp vẫn chưa được khai thác xứng tầm.

Việt Nam sở hữu một trong những đường bờ biển đẹp nhất thế giới. Với hơn ba nghìn cây số trải dài, vô số vịnh và đảo tuyệt mỹ, thiên nhiên đã trao cho chúng ta lợi thế mà hiếm nơi nào có được.

Thế nhưng, du lịch biển Việt Nam vẫn chưa đạt tới vị thế xứng đáng. Trong khi Bali, Phuket hay Maldives đã trở thành thương hiệu toàn cầu về nghỉ dưỡng biển, chúng ta vẫn loay hoay chưa định vị được mình là trung tâm nghỉ dưỡng biển hàng đầu khu vực.

Nguyên nhân nằm ở tư duy phát triển ngắn hạn, manh mún và cục bộ. Khi nhắc tới kinh tế biển, nhiều địa phương nghĩ ngay tới cảng hàng hóa hay nuôi trồng thủy sản. Những vũng vịnh yên bình, đáng lẽ phải được khai thác thành điểm đến nghỉ dưỡng đẳng cấp, lại bị biến thành nơi nuôi trồng, xả thải. Hệ quả không chỉ là lãng phí tiềm năng mà còn để lại hệ lụy môi trường.

Chẳng hạn, vịnh Hạ Long vốn là một di sản thiên nhiên thế giới từng nhiều lần chứng kiến cảnh bè nuôi và rác thải trôi dạt sau bão. Du khách đến để chiêm ngưỡng kỳ quan, nhưng phải chứng kiến khung cảnh phản cảm, mất đi niềm tin và hứng thú quay trở lại.

Cách tiếp cận của một số địa phương với du lịch biển cũng thiên về “lấy ngắn nuôi dài”. Có bãi biển đẹp thì nhanh chóng cho thuê hoặc bán để làm khu nghỉ dưỡng, thu tiền trước mắt.

Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn đến phần đất liền sát mép biển thì bỏ quên cả không gian biển rộng lớn bên ngoài. Du lịch biển là một chỉnh thể bao trùm, gắn kết nhiều ngành, đòi hỏi sự điều phối hài hòa.

Một điểm nghẽn khác là hạ tầng. Phần lớn cảng hiện nay đều lưỡng dụng, vừa cho hàng hóa vừa cho du lịch, khiến du khách cao cấp phải chịu cảnh khói bụi, thiếu an toàn và bất tiện. Không ít tàu khách quốc tế cập bờ nhưng vẫn phải trung chuyển bằng tàu nhỏ do thiếu cảng chuyên dụng. Hạ tầng đường thủy nội địa từ Bắc vào Nam còn yếu kém, đặc biệt là các tuyến kết nối từ cảng biển vào đất liền.

Trong khi đó, xu hướng du lịch nghỉ dưỡng trên biển ngày càng mạnh mẽ, cả với khách quốc tế lẫn khách Việt sau Covid. Nhu cầu đã có, tiềm năng rất rõ, nhưng năng lực đáp ứng chưa theo kịp.

Những nghịch lý ấy khiến du lịch biển Việt Nam dù nhiều lợi thế nhưng vẫn đứng sau trong bản đồ du lịch nghỉ dưỡng thế giới. Chúng ta có tất cả nhưng lại chưa biết cách phát huy để tạo nên sự khác biệt và đột phá.

Con đường cất cánh cho du lịch biển hậu sáp nhập

Bước vào giai đoạn mới, nhất là trong bối cảnh sáp nhập địa giới hành chính, cơ hội để định vị lại du lịch biển càng rõ ràng. Đây không thể chỉ là phép cộng cơ học của các tỉnh, mà phải là sự hợp lực thực chất với một tầm nhìn chiến lược.

Kinh tế biển cần được nhìn nhận như một chỉnh thể bao trùm, có nhạc trưởng từ Trung ương đến địa phương để các ngành bổ trợ cho nhau thay vì chồng lấn. Trong chỉnh thể đó, du lịch biển phải là động lực then chốt.

Con đường phát triển không thể thiếu yếu tố bền vững. Đã đến lúc du lịch biển Việt Nam phải được quy hoạch trên nền tảng ESG, tôn trọng môi trường, gắn với văn hóa bản địa và lợi ích cộng đồng.

Một khu nghỉ dưỡng chỉ thật sự thành công khi không phá vỡ cảnh quan mà còn làm cảnh quan đẹp hơn, tạo môi trường sống hạnh phúc hơn cho người dân đồng thời mang lại trải nghiệm trọn vẹn cho du khách. Đó mới là mô hình phát triển mà thế giới công nhận và khuyến khích.

Khách du lịch, đặc biệt là du khách cao cấp, luôn muốn những trải nghiệm riêng tư.

Khách du lịch, đặc biệt là du khách cao cấp, luôn muốn những trải nghiệm riêng tư.

Bên cạnh tư duy bền vững là tư duy về hạ tầng. Muốn phát triển du lịch biển ở tầm quốc tế, chúng ta cần cảng chuyên dụng cho du lịch, tách biệt khỏi cảng hàng hóa, cùng với các tuyến kết nối thuận tiện vào đất liền.

Chẳng hạn, TP. HCM với vị trí cửa ngõ, hoàn toàn có thể phát triển các tuyến du lịch đường thủy ngắn, trung và dài, kết nối biển và sông, tạo thành hành trình tổng thể từ lênh đênh trên sóng đến trải nghiệm đời sống văn hóa bản địa.

Nha Trang, Hạ Long, Phú Quốc hay Đà Nẵng cũng cần được quy hoạch cảng du lịch hiện đại để đón tàu khách quốc tế và du thuyền sang trọng. Ví dụ, tại Nha Trang hiện nay, các tàu du lịch quốc tế vẫn phải trung chuyển qua Cam Ranh vì cảng Nha Trang đang xây dựng và chưa rõ thời điểm hoàn thành. Nhiều tàu thậm chí còn vì vậy mà bỏ qua điểm đến Việt Nam trong hành trình.

Điều này gây khó khăn cho hoạt động đi lại, vận chuyển, trong khi mỗi ngày tàu thuyền vẫn phải đưa khách tham quan đều đặn. Bản thân Lux Cruises cũng gặp không ít khó khăn khi hoạt động ở Nha Trang do vấn đề hạ tầng. Tham vọng chạy dọc biển cận duyên Việt Nam của Lux Cruises vẫn chưa thể thực hiện do các cảng thủy còn yếu kém.

Khi hạ tầng được cải thiện, các sản phẩm nghỉ dưỡng biển sẽ có không gian để cất cánh.

Một hướng đi quan trọng nữa là phát triển sản phẩm du lịch đa dạng. Du lịch biển không chỉ là nghỉ dưỡng trong khu nghỉ dưỡng ven bờ mà còn là trải nghiệm lênh đênh nhiều ngày trên du thuyền, chèo kayak, lặn biển, khám phá đảo hoang, kết hợp với thăm thú trên đất liền. Tính bao trùm ấy tạo nên sự khác biệt và kéo dài thời gian lưu trú của du khách.

Khi du lịch biển được nhìn nhận như một nền kinh tế bao trùm, chúng ta sẽ khai thác hiệu quả hơn và gia tăng giá trị nhiều lần so với cách làm cục bộ hiện nay.

Hậu sáp nhập, khi các địa phương cùng hướng ra biển, cần nhất là một tầm nhìn chung. Việt Nam là quốc gia ven biển, nằm ở trung tâm Đông Nam Á, có lợi thế vượt trội để phát triển kinh tế biển. Nghị quyết 36 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển đến 2030, tầm nhìn đến 2045 đã xác định rõ định hướng này.

Vấn đề còn lại là biến tầm nhìn thành hành động, lấy du lịch biển làm động lực, phát triển hài hòa với các ngành khác, bảo đảm lợi ích bền vững cho cả quốc gia và địa phương.

Phạm Hà

Nguồn Nhà Quản Trị: https://theleader.vn/danh-thuc-tiem-nang-du-lich-bien-hau-sap-nhap-d41833.html