'Có một bước Quảng Nam…'
Qua khỏi đèo Hải Vân, trên đường Nam tiến của ông cha ta, là xứ Quảng. Các cuộc di dân rầm rộ ở các thời điểm 1471 theo Lê Thánh Tông hay 1602 theo Nguyễn Hoàng đã mở ra thời thịnh trị và đưa giang sơn đến tận mũi Cà Mau chỉ sau hai thế kỷ…

Qua khỏi đèo Hải Vân, trên đường Nam tiến của ông cha ta, là xứ Quảng. Ảnh: Tư liệu
Con người xứ Quảng đã có những bước chân mạnh mẽ trong lịch sử, mà các nhà nghiên cứu gọi là “Bước Quảng Nam”!
Cội nguồn tính cách xứ Quảng
Bước qua đèo Hải Vân là bước vào vùng đất mới, địa hình thổ nhưỡng mới và cả một nền văn hóa mới khác biệt với đạo Nho ở cố quốc. Tới đây sông nước lạ lùng/ Con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng thất kinh là vậy.
Trong văn tế nhiều họ, tộc vùng bắc Quảng Nam mà chúng tôi đọc được, thường thấy những câu: “Từ… lên đường Nam tiến/ Bước ngắn dài lắm nỗi bâng khuâng/ Bề xuôi ngược đôi phen ái ngại/ Ngẩng đầu lên trời rộng mênh mông/ Quay mặt lại quê xa vời vợi/ Hải Vân mây phủ, kìa Bà Nà, kìa núi Chúa/ Phận ly hương chìm nổi sá chi…”.
Lạ đất, lạ người nhưng không hề chịu khuất phục. Biến cái “lạ” ấy thành lợi thế, bằng sự thông thái, kiên gan của bao lớp cha ông.
Năm 2004, tỉnh Quảng Nam lần đầu tiên thực hiện công trình nghiên cứu Tìm hiểu con người xứ Quảng do các nhà văn, nhà nghiên cứu uy tín thực hiện. Công trình đã nhấn mạnh đến những điểm mấu chốt: Quảng Nam là một “bước lật cơ bản” trong lịch sử phát triển của dân tộc.
“Từ nay, nước Đại Việt đã có một không gian khác, một chân trời khác, những yếu tố vật chất và tinh thần khác chưa từng biết trước đó… Họ bước chân đến vùng đất mới với tư cách là đại diện cho nền văn hiến Đại Việt hoàn chỉnh và tư cách của người chiến thắng…”.
Nhưng mặt khác, văn hóa Đại Việt đã phát triển đến đỉnh điểm của nó từ thời Hồng Đức đến hậu Lê và đang lâm vào quá trình khủng hoảng không thể tháo gỡ, đang bức xúc đi tìm một lối thoát về phương Nam. Theo các nhà nghiên cứu, bộ máy nhà nước đã trở thành quan liêu, cồng kềnh, tham nhũng tràn lan, nhân dân khốn đốn và loạn lạc xảy ra khắp nơi…
Cãi lại một xã hội cũ, một lối sống cũ và theo chúng tôi, đôi khi cũng cãi lại chính mình! “Quảng Nam hay cãi”, vì vậy phải chăng như một tính cách, một số phận?
Ngọn lửa duy tân
Một điển hình “cãi lại một xã hội cũ” chính là trường hợp của nhà cải cách Lê Cơ.
Chí sĩ, nhà cải cách Lê Cơ sinh năm 1870 tại làng Phú Lâm, thuộc xã Tiên Sơn, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam (cũ). Ông được coi là nhà Duy tân - thực hành, từng có câu nói nổi tiếng “Không thể làm được trong toàn thiên hạ, thì thử nghiệm trong một làng vậy”…
Từ một xã Phú Lâm, công cuộc duy tân của Lê Cơ đã mở rộng ra nhiều làng ở Tiên Phước, Tam Kỳ, Thăng Bình, Điện Bàn, Hòa Vang ở gần Đà Nẵng, rộng đến 30 xã ở Quảng Nam lúc bấy giờ và lan ra nhiều tỉnh khác, với sự tham gia của các nhà nho Phan Thúc Duyện, Mai Dị, Phan Thành Tài, Trần Quý Cáp, Lê Bá Trinh...
...gây lo lắng cho cả chính quyền thực dân Pháp và triều đình phong kiến Việt Nam đương thời.
Ông Lê Cơ mở trường dạy Quốc ngữ đầu tiên, có cả nữ sinh, mở hội buôn, phường mộc, lò chén, lập ra nông hội theo mô hình hợp tác cho nông dân trong xã mình và nhiều cải cách dân chủ khác trong làng.
Một làng Phú Lâm thuở đó chỉ có 1.200 dân mà đã có hơn nửa thông thạo Quốc ngữ thì không phải là chuyện nhỏ! Các trường học ở Phú Lâm không chỉ học Quốc ngữ, mà còn cả tiếng Nhật, tiếng Pháp, thể dục, khoa học, quân sự…
Tiếng tăm của các trường ở Phú Lâm vang dội, nhờ vậy đến năm 1906, Lê Cơ tham gia cùng với các nhân sĩ Hồ Tá Bang, Nguyễn Trọng Lợi, Nguyễn Quý Anh vận động thành lập trường Dục Thanh (trường tân học ở Phan Thiết) và Công ty Liên Thành… Nhà giáo Lê Nguyên Đại, cháu nội của ông nói: “Ông còn đi đầu và vận động người dân cắt tóc ngắn, mặc áo ngắn và dùng hàng nội hóa…”.
Chí sĩ Lê Cơ đã cãi lại trật tự của xã hội đương thời từ vị trí của một lý trưởng yêu nước thương nòi, bất chấp hiểm nguy.
Không ngừng học hỏi để làm mới quê hương
Từ Phạm Phú Thứ đến Cửu Diễn có những khía cạnh tương đồng của những người luôn nghĩ đến sự cơ cực của lớp dân nghèo. Tìm tòi - ứng dụng - phá cách vì cuộc sống tốt đẹp hơn là một phẩm chất rất Quảng Nam.
Nếu cụ Phạm tuy chỉ làm phó của Phan Thanh Giản khi đi Tây, thì những thu hoạch của cụ sau chuyến Tây hành ấy là vô cùng giá trị và hữu dụng cho phát triển đất nước, nếu như được triều đình nhà Nguyễn nghe theo.
Hãy đọc lại một quãng đời làm quan của người con Gò Nổi này: Năm 1863 ông được cử làm Phó sứ, cùng với Chánh sứ Phan Thanh Giản sang Pháp và Tây Ban Nha với nhiệm vụ xin chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ.
Khi về nước, ngoài bản tường trình cốt để thuyết phục vua Tự Đức mau “cải cách việc học tập và phát triển công nghiệp”, Phạm Phú Thứ còn dâng lên vua hai tác phẩm do ông làm trong chuyến đi, đó là Tây hành nhật ký và Tây Phù thi thảo…
Trong Tây hành nhật ký, ông đã đo vẽ tỉ mỉ chiếc xe quay nước ở xứ Ai Cập mang về “cho dân ta học và làm”. Kết quả dân Quảng Nam đã làm theo để giải quyết việc đưa nước vào ruộng hết sức thành công. Có thể nói, ông là nhà canh tân thực hành theo khoa học Tây phương sớm nhất ở nước ta!
Từ Phạm Phú Thứ, chúng ta lại nhớ đến cụ Võ Dẫn, còn được gọi là Cửu Diễn với chiếc máy dệt cải tiến ở Duy Xuyên. Tôi cho rằng chủ trương mà bây giờ ta hay dùng là “ly nông bất ly hương”, thì cụ Cửu Diễn là người thực hiện sớm nhất ở Quảng Nam bằng việc cải tiến chiếc máy dệt bán tự động của cụ để người dân dệt vải khổ rộng hơn, năng suất cao hơn và không bỏ xứ ra đi…
Đọc lại những tài liệu về cụ mới thấy rằng cụ đã học cả chữ Nho rồi qua Quốc ngữ vì thấy sự hữu dụng của chữ mới, cụ đã từ bỏ chức lý trưởng làng Thi Lai năm 1922 vì chống lại sự hà hiếp của viên chánh tổng.
Cụ vào Sài Gòn năm 1932, đi coi triển lãm các loại máy dệt của Pháp và Tàu. Triển lãm không cho ghi chép, cụ đã phải quan sát kỹ lưỡng từng cơ phận, về nhà trọ ngồi ghi chép, vẽ lại. Rồi hôm sau lại đến kiểm tra, quan sát tiếp, vẽ tiếp.
Cửu Diễn quay về làng, mời các thợ mộc giỏi đến cùng chế tạo máy dệt tự động, bằng gỗ thay vì kim loại. Và chiếc máy dệt đã ra đời, có thể dệt được lĩnh, lụa với hoa văn đa dạng, khổ rộng hơn và năng suất tăng đến 3 lần.
Từ Phạm Phú Thứ cho đến Cửu Diễn, ta thấy toát lên những con người Quảng Nam luôn không bằng lòng với cái cũ, cần cù học hỏi vì luôn một lòng hướng tới người dân quê đang cơ cực.
“Sông nước lạ lùng” từ khi bước chân về phía Nam đèo Hải Vân đã khiến các tiên dân và hậu hiền xứ Quảng vượt qua mọi thử thách bằng những nỗ lực phá cách, không theo nếp cũ, xây dựng một xứ Đàng Trong, một bàn đạp của một nửa đất nước phát triển cho đến ngày nay.
Những con người được nhắc tới trên đây là trong muôn một. Ngày nay, xứ Quảng nói chung, Quảng Nam nói riêng vẫn còn nhiều điển hình phá cách như vậy trong nhiều lĩnh vực.
Ta bước vào đổi mới, đã kiến tạo một di sản Hội An như một bảo tàng sống trong phát triển du lịch, đã phá cách để có một Khu kinh tế mở Chu Lai, một khu công nghiệp đông bắc Điện Bàn từ sau ngày trở thành đơn vị hành chính mới thời mở cửa… là những điểm sáng khác.
Nhưng vùng đất mà “sông nước lạ lùng” ấy sẽ còn những thế hệ mới, sẽ cãi lại nhiều hơn nữa những nếp nghĩ, cách làm cũ để bước vào thời đại mới cho một thành phố Đà Nẵng kỷ nguyên mới, để hoàn thiện một “Bước Quảng Nam”. Và ta tin như vậy!
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/co-mot-buoc-quang-nam-3309575.html













