Chống lãng phí, thất thoát: Động lực phát triển trong kỷ nguyên mới
Bài toán chống lãng phí, thất thoát đang trở thành nhiệm vụ rất khẩn trương, cấp bách để tăng cường nguồn lực, khơi dậy sức dân, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
LTS: Bài toán hiệu quả đầu tư đang được đặt lên vị trí hàng đầu đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số trong thập kỷ tới của Việt Nam. Câu chuyện đầu tư "bao nhiêu, từ đâu, vào đâu và hiệu quả đến đâu" trở thành những mệnh lệnh quan trọng, và nếu không tìm được lời giải thích đáng sẽ tiếp tục trở thành điểm nghẽn ngăn trở nền kinh tế tăng tốc trong kỷ nguyên phát triển cao.
Trong khoảng hai thập kỷ qua, những con số không biết nói dối khi một nguồn lực lớn lên tới hàng trăm tỷ USD vẫn đang nằm lãng phí tại nhiều dự án đầu tư do bị ách tắc bởi nhiều nguyên nhân, nhất là những hạn chế trong cơ chế chính sách, pháp lý và thực thi, đặc biệt ở những dự án đầu tư công. Nếu những nguồn lực ấy tiếp tục bị treo, thì lãi suất vẫn phải trả, vốn bị hao mòn, tài sản xuống cấp, lao động và tài nguyên bị lãng phí trên quy mô lớn, nền kinh tế bị tổn thất lớn.
Trong khi ở chiều ngược lại, với quy mô lớn đến mức khó có thể tính hết bằng con số, việc nhìn nhận một cách thẳng thắn các dự án cũ, tìm ra các biện pháp tháo gỡ sẽ tạo ra hiệu ứng tăng trưởng đáng kể cho nền kinh tế. Quan trọng hơn, việc tháo gỡ không phải để truy trách nhiệm quá khứ, mà khi những điểm nghẽn này được nhận diện và xử lý, chúng sẽ không tái diễn với các dự án mới. Dự án sau sẽ triển khai nhanh hơn, thuận lợi hơn, hiệu quả hơn, không lâm vào tình trạng “gỡ xong lại vướng tiếp”.
Trước yêu cầu tăng cường nguồn lực, chống lãng phí, thất thoát vì thế trở thành nhiệm vụ rất khẩn trương, cấp bách nhằm tối ưu nguồn lực nội sinh, khơi dậy sức dân để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển cao như Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ rõ trong bài viết về "Chống lãng phí". Đặc biệt, phòng chống lãng phí, thất thoát cần có quyết tâm cao, bằng hành động cụ thể, với những giải pháp hữu hiệu tạo sự lan tỏa mạnh mẽ trong toàn hệ thống chính trị; chống lãng phí phải trở thành “tự giác”, “tự nguyện”, “cơm ăn nước uống, áo mặc hằng ngày”.
Trước thực tế này, Tạp chí TheLEADER khởi đăng loạt bài về "Chống lãng phí, thất thoát - Động lực quan trọng trong kỷ nguyên phát triển mới" nhằm thông tin tới độc giả bức tranh lãng phí, thất thoát, những siêu dự án ì ạch, bỏ hoang hóa, những trường hợp điển hình trong bức tranh lãng phí.

Dự án bệnh viện Bạch Mai tại Ninh Bình, một trong những điển hình của lãng phí, thất thoát trong đầu tư công. Ảnh: Hoàng Anh
Bài 1: Chống lãng phí, thất thoát - Động lực phát triển trong kỷ nguyên mới
Lãng phí, thất thoát - điểm nghẽn cho tăng trưởng
Vào thời điểm hiện tại, theo các chuyên gia, bước vào năm đầu tiên của một chu kỳ phát triển mới với những tham vọng rất lớn – triển vọng dài hạn là tích cực.
Nhưng cùng với đó là những thách thức rất lớn chuyển đổi từ mô hình công nghiệp kiểu cũ, dựa vào khai thác tài nguyên, gia công, lắp ráp, tận dụng lao động giá rẻ, sang mô hình tăng trưởng mới phụ thuộc công nghệ, tri thức và đổi mới sáng tạo, gắn với năng lực quản trị quốc gia, trong đó con người chính là “hạ tầng mềm” quan trọng nhất của sự phát triển.
Sau gần 4 thập niên đổi mới, bên cạnh những thành tựu to lớn, đất nước cũng đang đối diện với những giới hạn mới của mô hình tăng trưởng cũ với những thước đo “về hiệu quả” chưa bao giờ được đặt ngang hàng với tỷ lệ “giải ngân thành công”.
Dành nhiều thời gian nói về Nghị quyết số 79 về phát triển kinh tế nhà nước với câu chuyện triển khai sân bay quốc tế Long Thành tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79 và Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước và phát triển văn hóa Việt Nam vừa qua, lãnh đạo Đảng, nhà nước mang tới nhiều thông điệp quan trọng trong tư duy quản trị quốc gia, nhất là khi đất nước bước vào giai đoạn then chốt của kỷ nguyên phát triển cao.
Trong đó, vấn đề “hạch toán kinh tế” đã được Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh ngay tại hội nghị này được đánh giá như một kim chỉ nam mới để kích hoạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số.
Hàng loạt câu hỏi của Tổng Bí thư về câu chuyện đầu tư của sân bay quốc tế Long Thành đã cho thấy nút thắt trong việc, ít quan tâm đến hiệu quả đầu tư mà chỉ quan tâm đến việc giải ngân xong là hoàn thành nhiệm vụ.
“Quy mô 16 tỷ USD thì kinh khủng. Tôi hỏi đã vượt trội hơn so với Malaysia, Singapore chưa thì không chứng minh được. Tôi hỏi bao lâu thu hồi được 16 tỷ USD trả lại cho nhà nước thì cũng không trả lời được. Tôi hỏi sân bay Long Thành mỗi năm đóng góp cho tăng trưởng kinh tế quốc gia là bao nhiêu cũng không tính toán được. Thành ra nảy sinh ra lãng phí, tiêu cực, thậm chí thất thoát nếu không có hạch toán”.
Tổng Bí thư Tô Lâm
Đánh giá của nhiều tổ chức quốc tế cho thấy, tỷ lệ vốn đầu tư phát triển toàn xã hội/GDP của Việt Nam dù không còn cao như cách đây vài ba thập kỷ, nhưng vẫn khá cao. Đó cũng là tỷ lệ cao so với nhiều nước trên thế giới. Tỷ lệ cao đó góp phần làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đạt khá và có số năm tăng liên tục đứng hàng đầu thế giới trong nhiều năm.
Tuy nhiên, tỷ lệ này cũng cho thấy một số vấn đề đáng quan tâm. Tỷ lệ vốn đầu tư/GDP cao hơn tỷ lệ tích lũy/GDP cho thấy hiệu quả kinh tế thấp, thể hiện ở hệ số ICOR luôn chưa bao giờ ở ngưỡng dưới 5.
Đặc biệt, theo ông Đỗ Thiên Anh Tuấn, giảng viên Trường Chính sách công và quản lý Fulbright, ICOR của khu vực doanh nghiệp nhà nước lên tới 15, cao gấp ba lần so với khu vực tư nhân hay khu vực FDI vốn chỉ ở mức 5, cho thấy kinh tế nhà nước vẫn còn nhiều hạn chế.

Nguồn: NSO và tính toán của ông Đỗ Thiên Anh Tuấn, Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright
Trong đó, ghi nhận trọng điểm với các tập đoàn, tổng công ty nhà nước như PVN, EVN, Vinacomin, ACV, VNPT,… chưa thực sự thể hiện được vai trò chiếm lĩnh “những cao điểm chiến lược” của nền kinh tế.
Kinh tế học không phủ nhận vai trò nhà nước bởi có những lĩnh vực thị trường không thể tự mình giải quyết: hàng hóa công, an ninh quốc gia, điều tiết vĩ mô, hạ tầng nền tảng. Vì thế, ở mọi quốc gia, dù theo thể chế nào, kinh tế nhà nước ở mức tối thiểu vẫn phải hiện diện. Nhưng “có” mới là điều kiện cần, điều kiện đủ là nhà nước phải tham gia đúng chỗ, đúng mức và đúng kỷ luật.
Theo báo cáo giám sát của Quốc hội giai đoạn 2016 – 2021, nhiều dự án đầu tư ra nước ngoài quy mô lớn, trọng điểm chậm tiến độ, làm giảm hiệu quả đầu tư, điển hình là các dự án trọng điểm thuộc lĩnh vực dầu khí, điện, than, hóa chất,…. Trong khi đó, 12 dự án, doanh nghiệp yếu kém ngành công thương; một số tuyến đường cao tốc do VEC đầu tư; nhiều tổ chức, cá nhân bị kỷ luật, khởi tố hình sự, để lại hậu quả lớn cho xã hội, gây bức xúc dư luận.
Từ giai đoạn 2021 – 2025, tỷ trọng vốn đầu tư khu vực kinh tế nhà nước tuy giảm so với trước kia (dưới 30% so với 40 -50%), gần đây có tăng lên, nhưng vẫn ở dưới 30%. Nguồn vốn này có tác động đến việc hình thành các công trình trọng điểm, đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, là nguồn vốn “mồi” để thu hút các nguồn vốn khác, nhưng cũng có hạn chế như chậm, thất thoát, lãng phí lớn hơn.
Tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực ngoài nhà nước tuy tăng lên, nhưng có một lượng quan trọng bị “chôn” vào các kênh bất động sản, tiền ảo, vàng... Tỷ trọng vốn đầu tư nước ngoài tuy đạt khá, nhưng mục tiêu chủ yếu là lợi nhuận trên cơ sở khai thác lợi thế của Việt Nam có số lượng lao động lớn, giá nhân công rẻ và tính gia công, lắp ráp còn lớn, và độ mở với thế giới lớn.
Ngoài ra, hiệu quả đầu tư từ dòng vốn đầu tư của khu vực ngoài nhà nước nói chung cũng bị ảnh hưởng lớn bởi thể chế, sự chồng chéo đan xen giữa các thủ tục hành chính.
Lãnh đạo một doanh nghiệp bất động sản từng chia sẻ với khoảng 38-40 con dấu cần phải có với mỗi dự án, từ khâu chấp thuận chủ trương đầu tư, quy hoạch, định giá cho tới khi hoàn thành dự án với đủ ý kiến của các sở, ban, ngành, thủ tục hành chính… là vướng mắc lớn nhất doanh nghiệp đang gặp phải.
Ngoài ra, mỗi lần điều chỉnh quy hoạch, thiết kế là một lần phải xin lại từng ấy con dấu, một dự án triển khai nhanh thì mất không dưới ba năm, chậm thì 5-10 năm. Đó là chưa kể ở nhiều dự án, vì lý do nào đó bị rơi vào diện vi phạm, bị thanh tra, kiểm tra thì nguy cơ "đứng hình" vô thời hạn hoàn toàn có thể xảy ra.
Chưa kể còn đủ loại “giấy phép con” về môi trường, PCCC, cảm giác "như đầu Phạm Nhan, chặt đầu này lại mọc đầu khác".
Cách đây 9 năm, loạt chuyên đề TheLEADER từng phản ánh với trọng tâm câu chuyện Bộ Kế hoạch và đầu tư cũ đề xuất xóa bỏ gần 2.000 giấy phép con đã vấp phải sự phản đối, không đồng tình của cơ quan quản lý vốn đang sử dụng những thủ tục đó để kiếm lợi, thu phí ngoài pháp luật thông qua việc “bôi trơn”, “đi cửa sau” của doanh nghiệp.
Nhưng thực tế chứng minh, xóa bỏ những rào cản này đã giúp tiết kiệm và chống lãng phí rất lớn cho nguồn lực đầu tư và tái đầu tư của xã hội, và trở thành một trong những nguyên nhân then chốt giúp Việt Nam có tốc độ tăng trưởng thần tốc trong giai đoạn 10 năm vừa qua.
Giải nén nền kinh tế
Rõ ràng, năm đầu tiên của một nhiệm kỳ mới, đồng thời là năm mở đầu cho một chu kỳ phát triển mới, bao giờ cũng là năm nhiều khó khăn, đặc biệt là trong bối cảnh quốc tế hiện nay.
Với việc Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng 10% trở lên và lạm phát tăng khoảng 4,5%, đây là những mục tiêu rất thách thức trong bối cảnh phải vừa tiếp tục cải cách, vừa chống lãng phí, khơi thông nguồn lực, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội cao hơn nhiều so với năm 2025, tạo đà tăng trưởng hai con số trong cả giai đoạn 2026-2030.
Tuy nhiên, như nhìn nhận của TS. Cấn Văn Lực, chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ, người dân và doanh nghiệp có quyền kỳ vọng vào những bứt phá với điều kiện.
Đầu tiên, cần kiên định, quyết liệt với công cuộc đổi mới mạnh mẽ đang diễn ra, trong đó đột phá về thể chế, tinh gọn tổ chức - bộ máy, vận hành chính quyền địa phương hai cấp cần gắn với cải cách tiền lương và công tác tổ chức – nhân sự.
Đặc biệt là những kỳ vọng hiệu quả hơn trong khâu thực thi cơ chế, chính sách, luật lệ đã ban hành; quyết liệt cải thiện thực chất môi trường đầu tư - kinh doanh, chất lượng và hiệu quả thực thi công vụ các cấp, chống lãng phí, xem xét lại cách thức sử dụng và quản lý các nguồn lực trong toàn xã hội, cũng như đưa ra những giải pháp, thúc giục trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội vào cuộc quyết liệt, giải quyết triệt để việc phòng, chống lãng phí gắn với phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
(còn tiếp...)
Ngày 15/2/2026, Phó Thủ tướng thường trực Nguyễn Hòa Bình ký công điện của Thủ tướng về giải quyết các dự án tồn đọng kéo dài, đưa vào sử dụng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Theo đó, Chính phủ đánh giá chỉ tiêu tăng trưởng 2 chữ số năm 2026 gặp nhiều thách thức, yêu cầu rất lớn về huy động nguồn lực đầu tư toàn xã hội. Năm nay, vốn đầu tư toàn xã hội dự kiến khoảng 35% GDP, trong khi chi phí huy động vốn có xu hướng tăng. Do đó, việc chậm hoàn thành đưa các dự án vào khai thác, sử dụng đang gây lãng phí nguồn lực, ảnh hưởng đến mục tiêu tăng trưởng.
Thủ tướng yêu cầu các bộ ngành xử lý dứt điểm tồn tại các dự án, sớm đưa nguồn lực tồn đọng vào phát triển kinh tế xã hội ngay trong tháng 2 và quý I.
Các bộ, ngành, địa phương phải coi việc tháo gỡ cho các dự án tồn đọng là nhiệm vụ cấp bách. Việc xử lý phải chủ động, minh bạch, không hợp thức hóa sai phạm, phát sinh tiêu cực mới.
Theo công điện, các dự án cần được phân loại, xử lý theo thẩm quyền, với tinh thần "địa phương quyết, làm và chịu trách nhiệm". Địa phương chủ động xử lý thủ tục với dự án thuộc thẩm quyền, tập trung vào các lĩnh vực trọng điểm như đầu tư công, nhà ở xã hội, năng lượng, bất động sản.
Báo cáo trước đó của các bộ, ngành, địa phương, cả nước có hàng nghìn dự án tồn đọng, kéo dài nhiều năm với giá trị, nguồn lực rất lớn bị lãng phí. Vướng mắc chủ yếu của các dự án này liên quan tới quản lý, sử dụng đất đai, quy hoạch.
Nếu các dự án này được tháo gỡ, các chuyên gia ước tính GDP có thể tăng thêm 1-2%. Đây là một nguồn lực để Việt Nam thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn tới.











