Chiếu hoa khăn gấm Xuân về
Phiên chợ mỗi lúc một tấp nập, đoàn xe thồ rầm rập chở chiếu ra bến sông. Nhiều cửa hàng dệt chiếu hoa và chữ theo yêu cầu nên vào mỗi mùa cưới hay ngày lễ tết thường tấp nập đông vui...

Nhuộm cói dệt chiếu
1. Thuyền chúng tôi dập dềnh trên sóng nước từ ngã ba sông Luộc. Ai nấy đều háo hức tới chợ Hới (làng Hới, xã Tân Lễ, Thái Bình cũ; nay thuộc xã Long Hưng, Hưng Yên). Làng Hới vẫn như ngày nào ở ngay dải đất kết nối Hưng Yên và Thái Bình. Bến thuyền vẫn tấp nập với quang cảnh: “Ngã ba sông Luộc đôi bờ/ Xôn xao thuyền cập bến xưa đón hàng/ Đò từ phố Hiến đò sang/ Bồng bềnh chiếu Hỷ, giăng hàng chiếu Hoa”. Có người chợt hỏi ông lái đò rằng, xưa người đẹp Nguyễn Thị Lộ (người làng Hới) đi bán chiếu trên kinh thành có theo đường ngã ba sông Luộc ra sông Hồng?. Ông lái gật đầu kể, từ xa xưa chỉ có một con đường thủy này, người làng Hới thường lên chợ Đông Kinh bán hàng. Hiện nay vẫn vậy tàu, thuyền hàng lớn luôn ngược sông Hồng từ ngã ba sông Luộc.
Lát sau, ông lái chống sào cắm bến cho mọi người vội vã lên bờ. Tiếng hát quan họ từ đâu vẳng lên giọng mời trầu rộn ràng. Phiên chợ vào xuân đón tết, không ít thương lái về đánh hàng chiếu lên mạn ngược. Một đôi bạn trẻ cùng chuyến đò cũng lặn lội về đây để mua chiếu làng Hới có in chữ “Song Hỷ”. Có người kể, chiếu Hới cũng được bày bán tại phố Hàng Chiếu (phường Hoàn Kiếm) nhưng mỏng mảnh chứ không nuột nà dày dặn như chiếu tại chợ làng. Câu ca cổ: “Ăn cơm Hom-nằm giường Hòm-đắp chiếu Hới” đã truyền bao đời nay vẫn đúng.
Chính vì thế, duyên tình Nguyễn Thị Lộ với Nguyễn Trãi đã nảy sinh từ câu chuyện về chiếu làng Hới. Chiếu Gon làng Hải Hồ (tên chữ của làng Hới) dệt sợi cói trắng nhỏ dầy dặn, có tiếng là êm mát và bền lâu. Nhiều người vẫn còn nhớ tới câu trả lời hóm hỉnh của Nguyễn Thị Lộ đi bán chiếu ngày đó rằng: “Thiếp ở Tây Hồ (có bản ghi Hải Hồ) bán chiếu Gon/ Hỏi chi chiếu bán hết hay còn/ Xuân xanh chừng trăng tròn lẻ/ Chồng còn chưa có hỏi chi con”. Còn gốc chữ Tây Hồ có nguyên do, vì ngày đó cô Gấm (tên khai sinh của Nguyễn Thị Lộ) đã có thời gian giúp một người cậu sinh sống ở vùng Hồ Tây bán chiếu. Lại còn chuyện, cô Gấm được mọi người gọi tên Lộ (đường) chỉ vì cô thông thạo đường đi lối lại và luôn dẫn bà con làng Hới lên chợ Đông Kinh bán hàng. Đây là giai đoạn giặc Minh đô hộ nước ta (1407-1427). Chúng hay giở trò bắt bớ giết chóc người dân. Để giữ bí mật dòng họ, tránh tai họa ập đến nên ai cũng đổi tên khi đi xa làm ăn buôn bán.
Phiên chợ mỗi lúc một tấp nập, đoàn xe thồ rầm rập chở chiếu ra bến sông. Nhiều cửa hàng dệt chiếu hoa và chữ theo yêu cầu nên vào mỗi mùa cưới hay ngày lễ tết thường tấp nập đông vui. Hiện cũng có nhiều công ty dệt chiếu được thành lập nên lượng chiếu xuất tại làng mỗi ngày một gia tăng. Chiếu làng Hới càng có tiếng và chiếm lĩnh thị trường nhiều vùng miền khác nhau. Không ít công ty còn xuất khẩu chiếu sang các nước vùng Đông Nam Á như Lào, Thái Lan, Campuchia. Chúng tôi tới đây mới hay chỉ làng Hới có đền thờ tổ nghệ dệt chiếu Phạm Đôn Lễ (1457- 1531). Hướng dẫn viên cho biết nhiều câu ca dao về nghề dệt chiếu đã xuất hiện tại làng Hới. Nhất là “Vè bán chiếu” luôn được những người bán chiếu trên chợ Đông Kinh rao vặt. Nhưng thú vị nhất lại là những ca dao về tình yêu liên quan tới chiếc chiếu. Một thời đâu cũng hát vui: “Mấy khi bạn đến chơi nhà/ Võng điều ra rước chiếu hoa trải ngồi”. Hóm hỉnh và duyên dáng làm sao: “Những nơi chiếu miến, chiếu đào/ Điếu ngà bịt bạc, em nào có say/ Những nơi chiếu cói, võng đay/ Điếu sành, xe sậy, em say lừ đừ”. Cho tới nay, nhiều vùng quê chỉ dùng chiếu cói chứ ít nhà dùng chiếu nhựa hay chiếu tre. Chiếu từ xa xưa được coi là sản vật gắn bó với đời sống thiết thực không thể thiếu trong mọi gia đình.

Tượng bà Nguyễn Thị Lộ
2. Hình ảnh lá chiếu quen thuộc luôn luôn hiện lên trong hạnh phúc gia đình: “Sáng trăng trải chiếu đôi hàng/ Bên anh đọc sách bên nàng quay tơ”. Chúng tôi đang mải mê xem hàng thì hướng dẫn viên gọi loa tập hợp để về ngôi đền thờ Nguyễn Thị Lộ. Dân làng đã tôn vinh bà Lễ nghi Học sĩ Nguyễn Thị Lộ vào bậc Đức Thánh Mẫu. Xã Tân Lễ đã thành lập “Câu lạc bộ Lễ Nghi Học sĩ Nguyễn Thị Lộ”, với mục đích khuyến học, khuyến tài. Gần 20 năm trước, làng cho đúc tượng đồng chân dung bà để thờ tự. Cũng từ đây, nhiều câu lạc bộ đã ra đời ở một số tỉnh và thành phố, trong cả nước. Chung quanh đền thờ Đức Thánh Mẫu Lễ nghi Học sĩ Nguyễn Thị Lộ, rất nhiều câu đối, thơ ca được ghi dấu lại để tưởng nhớ bà. Những câu thơ của dân làng đã viết: “Ngày đi mấy lá chiếu gon/ Đường về một gánh nước non bời bời/ Người đi để lại bồi hồi/ Cùng Sao Khuê sáng trọn đời núi sông”. Chúng tôi bần thần đứng bên hồ sen trước bức tượng Đức bà. Hương hoa ngát thơm và hồn người còn quanh quất đâu đây.
Sông Luộc mỗi lúc một dậy sóng khi ngã ba có dòng xoáy từ nguồn nước sông Hồng dội về. Gió xuân hừng lên như cuộn theo sóng nước. Nắng ấm chan hòa trên con đường làng khi chúng tôi rời về chợ Hới. Nhiều bạn trẻ xúm vào nghe những liền anh liền chị đang tập hát trên thuyền rồng chuẩn bị vào lễ hội. Nhiều gian hàng bày giăng các loại chiếu để thu hút khách mua. Có một loạt những lời rao, nào là chiếu Cưới, chiếu Lễ, chiếu Cỗ, chiếu Đậu, chiếu Hoa… Chợ mỗi lúc một đông.
3. Người người đi lại nhộn nhịp cùng tiếng còi xe xin đường hối hả. Một góc rộng có dăm cô gái đang thầm ngắm cho mình những chiếc chiếu trong mùa cưới trong năm. Một cô gái ôm một lá chiếu có in hình hoa Sen vội vã rảo chân trên đường.
Một chàng trai cứ lẽo đẽo theo sau hỏi han chào đón. Ắt hẳn nàng đã ngượng ngùng e thẹn. Lời quan họ vẫn vang lên ngọt tình chào đón khách về làng. Rồi bất ngờ tiếng ngâm thơ tình tứ vang lên từ loa nhạc, đong đưa, khấp khởi: “Em mua lá chiếu Hoa đón tết/ Hay về chơi chợ Hới bên sông/ Cô nàng chúm chím xinh mặt nguyệt/ Tay ôm chiếu Hỷ, ửng má hồng”. Nắng như vỡ òa cùng sóng nước ngã ba sông.
Hướng dẫn viên nói với chúng tôi gái Hới xinh và đáo để mà lại đáng yêu làm sao. Trong dân gian đã truyền “Rượu Me-Chè Thái-Gái Hải Triều”. Làng Hới (chữ Hán là Hải), vì thế làng còn có tên văn tự là Hải Triều (Hải Hồ-hay Hải Thị).
Hải Triều có tới 10 trên tổng số 14 làng được công nhận làng nghề dệt chiếu. Chả thế, chợ Hới nườm nượp người tới mua bán dịp lễ tết. Những kẻ chợ không ai không biết tới tục ngữ: “Chiếu Hới, vải Bơn, lụa Mẹo”. Trăm năm trước, chiếu Hới là vật phẩm tiến vua, nức tiếng từ thời Lý, Trần đến nay. Thương hồ chỉ tới làng Hới gom hàng, rồi chở ngược sông Hồng lên Tây Bắc và Việt Bắc. Chúng tôi ngợp trong rừng hoa chiếu rực rỡ nắng xuân. Thi hào Nguyễn Du đã dạt dào cảm xúc khi tới phiên chợ ngã ba sông Luộc (thời đó còn gọi là sông Phú Nông). Ngài đã cảm tác: “Ngày xuân thuyền buôn họp/ Lũy cổ mở gió khơi/ Lòng vô cùng thương cảm/ Cỏ thơm rợn chân trời” (Thảo Nguyên dịch). Một đàn cò trắng tựa ngàn bông tuyết bay chập chờn từ hòn đảo từ phía đông sang. Bồng bềnh cánh cò giang rộng vỗ gió, cuốn theo sắc màu hoa xuân của những lá chiếu Hới bay rợp trời.
Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/chieu-hoa-khan-gam-xuan-ve-177978.html












