Bảo tồn và phát huy hát ru

Trong kho tàng văn học Việt Nam, hát ru là một phần gắn kết làm nên sự phong phú, đặc sắc, độc đáo của văn hóa Việt Nam. Đánh giá về hát ru, đương thời giáo sư Trần Văn Khê nhận định: 'Bài hát ru là bài âm nhạc đầu tiên mà người mẹ truyền sang đứa con của họ - sữa nuôi phần xác, hát nuôi phần hồn... Những đứa trẻ được mẹ hát ru chính là đứa trẻ giàu tâm hồn và hạnh phúc nhất'.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Lời hát ru thường được lấy từ các bài ca dao, đồng dao, hoặc từ những câu thơ lục bát, câu hò dân gian, có tiết tấu chậm và đều, âm lượng nhỏ và mang tính chất lặp đi lặp lại mà thực chất đó là sự gửi gắm niềm vui hay nỗi buồn của người mẹ. Lời ru tác động tới đứa trẻ phụ thuộc rất nhiều vào chất giọng của người hát. Giọng trầm ấm có sức truyền cảm mạnh hơn. Song dù là chất giọng thế nào thì những giai điệu của khúc hát ru cùng với bàn tay vỗ về nhè nhẹ, đều đều vẫn tác động đến hệ thần kinh của trẻ như một phản xạ có điều kiện.

Khi còn ở trong nôi rồi đến khi biết chập chững chẳng mấy đứa trẻ lại không được nghe những câu hát ru của mẹ của bà. Câu hát ru cứ thế mà tạc vào tâm trí tuổi thơ khiến cho đứa trẻ lớn lên gắn bó sâu đậm tình yêu thương của mẹ của bà trong từng hơi thở. Giấc ngủ nhờ vậy mà đến thật từ từ và sâu dần. Nhìn từ góc độ tình cảm thì câu hát ru là sợi dây thiêng gắn kết tình cảm của người mẹ với đứa trẻ từ lúc còn nằm nôi tới khi thôi nôi rồi chập chững những bước đi đầu đời. Chính vì vậy khi người mẹ không biết hát ru thì đứa trẻ sinh ra đã phải chịu thiệt thòi hơn những đứa trẻ khác.

Văn hóa hát ru của Việt Nam rất phong phú gắn liền với âm điệu từng vùng miền, từ đó mà có các điệu ru con Bắc Bộ, Trung Bộ hay Nam Bộ. Mỗi vùng miền của đất nước ta có những câu hát ru khác nhau. Miền Bắc có hát ru của miền Bắc, miền Trung có hát ru của miền Trung và miền Nam có hát ru của miền Nam. Việt Nam có đa dân tộc, nhiều dân tộc thiểu số lại có điệu hát ru con của dân tộc mình. Dân tộc Tày, Nùng (Vùng Đông Bắc) có Ứ noọng, Ứ noọng nòn, Ứ nòn.

Dân tộc Mường (Vùng Tây Bắc và Bắc Trung Bộ) ru con bằng trường ca dài, thơ kể về nguồn cội gắn với truyền thuyết đẻ đất, đẻ nước. Dân tộc K'Ho, Mạ, Châu Ro (Vùng Tây Nguyên) hát ru con, dưới hình thức sử thi hay hát kể diễn tả đời sống lao động trên nương rẫy với cảnh núi rừng đại ngàn.

Câu hát ru con “ún ơi ún à” chẳng người mẹ nào người dân tộc Mường ngược hai bờ sông Đà từ Thanh Thủy, Thanh Sơn lên Hòa Bình lại không biết. Ca từ của câu hát ru cứ đều đều, êm ái mà sâu lắng tình cảm yêu thương của mẹ, thực sự là tiếng lòng của người mẹ dành cho con. Và em bé theo câu hát ru ấy mà đi vào giấc ngủ kể cả khi nằm trên lưng mẹ, theo mẹ đến chợ hay lên nương.

Không phải bà mẹ nào cũng thuộc và hát ru được nhiều lời ru Bắc Trung Nam nhưng hầu hết các bà mẹ chẳng mấy ai lại không thuộc đôi câu hát ru con. Trong đó Bắc bộ có các bài quen thuộc “Công Cha Nghĩa Mẹ”

" à ơi...

Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ mẹ kính cha

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con."

Hay bài “Cái Ngủ”:

"À ơi! Cái ngủ mày ngủ cho ngoan

Để mẹ đi cấy đồng quan chưa về

Bắt được con cá rô trê

Đem về thái nhỏ nấu canh cho chầy."

Lời cuối của câu hát này có thể được thay đổi khác nhau nhưng âm điệu thì vẫn giống nhau:

"Cái ngủ mày ngủ cho ngoan

Để mẹ đi cấy đồng quan chưa về

Bắt được con cá rô trê

Buộc cổ lôi về cho cái ngủ ăn”...

Vùng đất Nghệ Tĩnh (Nghệ An - Hà Tĩnh cũ) thuộc dải đất bắc của miền Trung nắng cháy bởi gió Lào. Cái nghèo đói quấn bên chân người nông dân từ bao đời. Người dân sống kham khổ, song tình cảm. Và chính sự kham khổ đã tạo nên cách sống chịu thương chịu khó, gắn bó đoàn kết. Làn điệu Ví, Giặm có giai điệu mộc mạc, tha thiết, thấm đẫm triết lý nhân sinh được kết tinh từ đó và trở thành lời ru đi cùng năm tháng. Những người mẹ ở vùng đất này chẳng ai không biết khúc Hát Ru: “Ru con, ru cả tiếng long” thấm đậm tình mẫu tử

"à ơi! Ru con, ru cả tiếng lòng

Ru con, ru cả tháng ngày

Có ai thấu mẹ những cay đắng thầm?

Bên nôi gió bấc, lạnh lùng... à ơi!"

Hay bài Công đức sinh thành:

"À ơi...

Công cha đức mẹ cao dày,

Cưu mang trứng nước những ngày ngây thơ.

Nuôi con khó nhọc đến giờ,

Trưởng thành con phải biết thờ hai thân."

Hình ảnh người mẹ tần tảo, chịu thương, chịu khó, hi sinh tất cả cho con là tiếng lòng mong mỏi trong hát ru Nghệ Tĩnh.

"À ơi...

Ăn chi ngon bằng cơm với cá,

Ai thương bằng tình mẹ thương con.

Bao giờ cá lý hóa long,

Đền ơn cha mẹ ẵm bồng ngày xưa."

Vào tới Nam Trung bộ, như tính cách của người dân Huế câu hát ru của xứ Huế cũng biểu đạt mộng mơ và kín đáo song âm hưởng lại hết sức sâu đậm xen vào câu hát là niệm tự hào sâu lắng khi nêu tên những địa danh và sản vật của Huế:

Ầu ơ...

Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu

Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh

Chợ Dinh bán áo con trai

Chợ Quán bán vải, chợ Mai bán dầu.

Ầu ơ...

Chiều chiều mây phủ núi Ngự

Gió đưa cành trúc, dạ từ rầu rầu

Thương em không biết để đâu

Để trong ống khóa, lâu lâu lại nhìn.

Ngày nay vì mưu sinh không ít gia đình bố mẹ bận bịu với công việc phải thuê ô sin trông giữ con, hoặc cho con đi nhà trẻ, mẫu giáo cả ngày, đứa trẻ ít được cha mẹ ôm ẵm vỗ về phải chịu thiệt thòi.

Chính vì vậy đây là lúc mà câu hát, lời ru cần được bảo tồn, truyền dạy và phát huy để thực sự là vườn ươm lòng nhân ái, như dòng suối mát đầu nguồn nuôi dưỡng tâm hồn con người đáp ứng với yêu cầu trong kỉ nguyên mới của đất nước.

Thăng Long

Nguồn Phú Thọ: https://baophutho.vn/bao-ton-va-phat-huy-hat-ru-256330.htm