Bài học kinh nghiệm về thu hút sinh viên nước ngoài tại Hàn Quốc
Trong bối cảnh Seoul đang nỗ lực thu hút nhân tài toàn cầu để bù đắp sự suy giảm dân số, các sinh viên tốt nghiệp nước ngoài cho biết, thiếu cơ hội và các quy định visa khắt khe tiếp tục là rào cản đối với họ.
Tỷ lệ việc làm tăng, nhưng cơ hội tiếp cận còn hạn chế
Mặc dù số liệu do Bộ Giáo dục công bố hôm qua cho thấy, số lượng sinh viên quốc tế tốt nghiệp tìm được việc làm tại Hàn Quốc đã tăng từ 1.732 người năm 2018 lên 4.993 người năm 2024, nhưng bức tranh toàn cảnh lại phức tạp hơn.
Tổng số sinh viên quốc tế tốt nghiệp đã tăng hơn gấp đôi nhưng tỷ lệ việc làm chỉ tăng nhẹ, từ khoảng 9,6% lên khoảng 13,8%. Với việc các cuộc khảo sát cho thấy 60 - 80% sinh viên quốc tế muốn tìm việc làm ở Hàn Quốc, những con số này thể hiện sự chênh lệch rõ rệt, gây thất vọng cho nhiều sinh viên tốt nghiệp.

Một người tìm việc xem tờ rơi vào ngày 20/12 tại hội chợ việc làm dành cho người nước ngoài ở quận Gangnam, Seoul. (Yonhap)
Rosa Haque, một sinh viên quốc tế cho biết: “Nếu bạn tìm kiếm trên Google hoặc Naver, bạn hầu như không thể tìm thấy các bài đăng tuyển dụng dành cho sinh viên quốc tế. Nếu có những bài đăng tuyển dụng tốt hơn, hoặc nếu họ đề cập đến việc người nước ngoài có được phép ứng tuyển hay không, chúng tôi sẽ dễ dàng hơn".
“Tôi nghĩ, số lượng tin tuyển dụng dành cho sinh viên nước ngoài đã giảm đáng kể. Nếu họ tuyển dụng người nước ngoài, thì thường là cho các vị trí quản lý cấp cao, và rất hiếm khi là nhân viên mới”, Park, một nhân viên tại công ty hỗ trợ quản lý chuyên giúp các tập đoàn lớn của Hàn Quốc tuyển dụng và đào tạo nhân tài nước ngoài, cho biết.
Một cơ hội hiếm hoi

Sau khi tốt nghiệp ĐH Yonsei, Rosa Haque theo học thạc sĩ tại Viện Khoa học và Công nghệ Tiên tiến Hàn Quốc (KAIST). Cô cho biết, mình may mắn tìm được việc chỉ sau ba tháng tìm kiếm: “Tôi tìm kiếm các tin tuyển dụng nhưng hầu như không tìm thấy vị trí nào dành cho sinh viên quốc tế. Cuối cùng, tôi đành phải gửi email trực tiếp đến các phòng nhân sự để hỏi về các vị trí có thể tuyển dụng. Họ cũng không thể cho tôi câu trả lời chính xác. Hầu hết các câu trả lời đều khuyến khích tôi nộp đơn trong các đợt tuyển dụng mở cùng với các ứng viên người Hàn Quốc, một lựa chọn mà tôi cho là không khả thi trên thực tế. Samsung, SK và các công ty khác đều có các bài kiểm tra tiêu chuẩn riêng bằng tiếng Hàn, (tương tự như) GSAT. Họ không cung cấp bài kiểm tra bằng tiếng Anh. Ngay cả các ứng viên người Hàn Quốc cũng thường mất nhiều tháng để chuẩn bị cho các kỳ thi này, khiến các ứng viên nước ngoài có khả năng tiếng Hàn hạn chế gặp bất lợi đáng kể. Tôi may mắn tìm được một vị trí mà họ thực sự chỉ tuyển dụng sinh viên quốc tế. Tôi không phải thi vì sinh viên quốc tế có bằng thạc sĩ được coi là ứng viên có kinh nghiệm theo diện đó”.
Yang Lin, một sinh viên tốt nghiệp ĐH Yonsei, 27 tuổi, người Trung Quốc, cho biết, việc tìm việc làm ở Hàn Quốc khá dễ dàng phần lớn là vì anh ấy nói tiếng Hàn trôi chảy. Park nói, hầu hết các công ty đều không có nhiều động lực để tuyển dụng sinh viên mới tốt nghiệp nước ngoài ở vị trí cấp thấp: “Đã có rất nhiều người Hàn Quốc có kinh nghiệm sống hoặc học tập ở nước ngoài. Các công ty muốn tuyển dụng họ vào các bộ phận kinh doanh toàn cầu của mình hơn".
Những khó khăn về visa
Đỗ Ngọc Minh Lương, một sinh viên Khoa học Máy tính người Việt Nam, tốt nghiệp ĐHQG Seoul vào tháng 2/2025, đã hoàn thành hai kỳ thực tập tại các tập đoàn lớn của Hàn Quốc, nhưng lại gặp khó khăn với thủ tục visa: “Hồi đó, ở một trong những công ty, mọi việc hơi khó khăn vì tôi nghĩ mình thuộc nhóm sinh viên nước ngoài đầu tiên. Vì vậy, họ mất khá nhiều thời gian để chuẩn bị tất cả các giấy tờ sau khi tôi được nhận vào làm. Tôi cảm thấy các công ty Hàn Quốc không thực sự biết nhiều (về quy trình xin visa). Nhiều công ty không biết các giấy tờ cần thiết để bảo lãnh cho nhân viên người nước ngoài".

Ngày 20/12, những người tìm việc xem bảng thông báo việc làm tại một hội chợ việc làm được tổ chức ở quận Gangnam, Seoul. (Yonhap)
Hugo Adam, một sinh viên người Pháp tại ĐHQG Seoul và là Phó Chủ tịch Hội Sinh viên quốc tế của trường cho biết, sự không ổn định về visa là lý do khiến các công ty không muốn tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp quốc tế. Sinh viên quốc tế thường chuyển sang visa D-10 (tìm việc làm) sau khi tốt nghiệp, mặc dù một số không thể vì lý do tài chính. Visa D-10 cho phép sinh viên tham gia thực tập 1 năm, tuy nhiên, sinh viên phải xin visa lao động, nếu công ty quyết định tiếp tục tuyển dụng họ.
Theo Adam: “Khi bạn có visa D-10, mọi chuyện thực sự rất khó khăn… nó không ổn định và các công ty không muốn mạo hiểm rằng bạn sẽ ở lại hoặc có thể bạn sẽ mất visa. Điều đó khá căng thẳng đối với người nước ngoài. Việc xin visa làm việc chuyên nghiệp thông thường, E-7, mất nhiều thời gian và không đảm bảo thành công".
Thông thường, họ phải đáp ứng một trong 90 mã ngành nghề, mỗi mã ngành nghề lại có những yêu cầu riêng. Những yêu cầu này có thể bao gồm giới hạn về quy mô công ty và khuyến nghị từ các bộ và cơ quan Chính phủ. Thêm vào đó, các mã ngành nghề và mô tả của chúng thường xuyên thay đổi, và đôi khi bị loại bỏ hoặc thêm mã mới. Visa D-10 có thể được gia hạn từng năm một, tối đa ba năm, nhưng những hạn chế về việc làm khiến việc này trở nên gánh nặng về tài chính. Adam cho biết, việc xin được visa cư trú dài hạn F-2-7 thường được coi là kết quả mong muốn nhất. Tuy nhiên, visa F-2-7 của Hàn Quốc rất khó xin, vì nó hoạt động dựa trên hệ thống tính điểm, ưu tiên thu nhập cao, trình độ tiếng Hàn và bằng cấp học thuật cao cấp, khiến nhiều người nước ngoài khó đáp ứng được yêu cầu.
Tuyển dụng không phải là rào cản cuối cùng
Rosa Haque cho biết, cô được yêu cầu nộp điểm số cấp độ 5 trong bài kiểm tra năng lực tiếng Hàn và các cuộc phỏng vấn ở giai đoạn sau được tiến hành bằng tiếng Hàn. Nhưng cô lưu ý rằng, những khó khăn về ngôn ngữ thường vẫn tồn tại sau khi được tuyển dụng: “Ngay cả khi họ được tuyển dụng (mà không cần học tiếng Hàn), họ cũng khó thích nghi với văn hóa làm việc do những hạn chế về ngôn ngữ”. Ngay cả những người tìm việc thành công cũng cho biết, việc thích nghi văn hóa vẫn là một thách thức.
Theo Yang: “Văn hóa làm việc ở Hàn Quốc mang tính phân cấp hơn. Ở thành phố quê hương tôi, chúng tôi có giờ giấc cố định để ngủ trưa. Lúc đầu, thật khó để quen với việc thức cả ngày".
Khởi nghiệp như một lựa chọn thay thế
Thay vì tham gia thị trường lao động, Andrua Haque, người đang theo học theo chương trình Học bổng Toàn cầu Hàn Quốc do Chính phủ tài trợ, đã chọn đồng sáng lập một công ty khởi nghiệp với một người bạn Hàn Quốc mà anh quen ở trường đại học, một quyết định mà giờ đây anh thấy còn khó khăn hơn: “Với visa D-2, bạn có thể thành lập công ty khởi nghiệp ở Hàn Quốc, nhưng bạn không bao giờ có thể kiếm được thu nhập cá nhân từ đó. Vì vậy, trong suốt thời gian tôi làm công ty khởi nghiệp, và cho đến tận bây giờ, tôi không thể được trả lương hợp pháp, hoặc sở hữu cổ phần, hoặc có một doanh nghiệp dưới tên mình mà không có người đồng sáng lập là người Hàn Quốc”. Mặc dù không bất hợp pháp, nhưng anh cho biết, tinh thần khởi nghiệp của sinh viên vẫn bị hạn chế bởi các giới hạn về vốn, quyền sở hữu và lợi nhuận.
Trả lời các câu hỏi về những tồn tại khó khăn trên, Bộ Giáo dục Hàn Quốc cho rằng, mặc dù đang nỗ lực cải thiện triển vọng việc làm cho sinh viên quốc tế, nhưng trách nhiệm phần lớn thuộc về chính quyền địa phương: “Theo sáng kiến RISE, chúng tôi hỗ trợ chính quyền địa phương giúp sinh viên quốc tế phát triển các năng lực quan trọng".
Bộ cũng cho biết thêm, họ đang phát triển các sáng kiến học tiếng Hàn tập trung vào kinh doanh mới và có kế hoạch yêu cầu chính quyền địa phương chứng minh nỗ lực bồi dưỡng nhân tài nước ngoài để nhận được hỗ trợ của Chính phủ.












