An cư là để sống chung tu học

Mỗi độ Hạ về, chư Tăng Ni bắt đầu chính thức bước vào mùa an cư. Cho nên, theo Luật định, chư Tăng Ni các nơi, đều trở về một tùng lâm để cấm túc. Đó là một truyền thống rất đẹp của Phật giáo.

Duyên khởi vào mùa mưa ở Ấn Độ, trời mưa rất nhiều, đường sá lầy lội, ngập lụt, khiến phương tiện giao thông thời cổ đại hoàn toàn bị hạn chế. Lúc bấy giờ, ngoại đạo và ngay cả các loài chim muông, thú dữ (như loài gấu) đều tìm nơi trú ẩn, ở yên một chỗ để nuôi dưỡng sinh lực. Trong khi đó, các thầy Sa-môn Thích tử vì tâm nguyện hoằng pháp vẫn tiếp tục đi suốt năm, suốt tháng. Hình ảnh những người xuất gia đi lại trong mưa gió, áo quần quấn chặt vào người, ướt át, làm mất đi dáng vẻ oai nghi, phong thái trang nghiêm. Điều này khiến cho người đời, chư vị cư sĩ phê bình và dị nghị.

Trong ba tháng mùa mưa, chư Tăng Ni phải cấm túc, ở yên một chỗ để tu học. Việc này vừa giúp bảo toàn đạo phong, hoằng truyền hình ảnh đẹp của Tăng đoàn, vừa tạo cơ hội cho chư Tăng tụ họp để nghiên cứu giáo lý, học hỏi và trao đổi kinh nghiệm hoằng pháp. Nếu người đi giảng diễn suốt mà ‘vốn liếng’ tự thân ít ỏi thì đến lúc nào đó sẽ bị cạn kiệt; do đó cần có ba tháng dừng chân để thúc liễm thân tâm - trau dồi giới đức và làm giàu lại Tuệ giác của chính mình.

Khi nghe chư Tăng bạch lại những lời phê bình của thế gian, Đức Phật thấy điều đó là hợp lý và có lợi ích. Ngài đã dung hợp thông lệ này vào Tăng đoàn và định ra quy chế: Trong ba tháng mùa mưa, chư Tăng Ni phải cấm túc, ở yên một chỗ để tu học. Việc này vừa giúp bảo toàn đạo phong, hoằng truyền hình ảnh đẹp của Tăng đoàn, vừa tạo cơ hội cho chư Tăng tụ họp để nghiên cứu giáo lý, học hỏi và trao đổi kinh nghiệm hoằng pháp. Nếu người đi giảng diễn suốt mà “vốn liếng” tự thân ít ỏi thì đến lúc nào đó sẽ bị cạn kiệt; do đó cần có ba tháng dừng chân để thúc liễm thân tâm - trau dồi giới đức và làm giàu lại Tuệ giác của chính mình.

Ngày nay, xã hội có những phương tiện đi lại thuận lợi, không còn cảnh bộ hành lội nước như xưa. Nhưng giá trị của mùa an cư là người xuất gia được sống chung với nhau, từ đó học hỏi và trao đổi những kinh nghiệm tu tập, chia sẻ những hạnh phúc mà chúng ta đã đạt được. Chính vì lẽ đó, an cư đã trở thành truyền thống của Phật giáo.

An cư kiết hạ không đơn giản là một hình thức cư trú, mà được chia ra làm hai phương diện mật thiết: Sự an cư và Lý an cư.

Sự an cư - Hình tướng

An định trong cương giới: Sự an cư thuộc về hình tướng bên ngoài. Hành giả phải khép mình trong một ranh giới cố định được thiết lập, gọi là Đại giới ngoại tướng (ví dụ như bờ tường rào quanh khuôn viên chùa). Trong suốt ba tháng, nếu không có việc do Tăng sai hoặc duyên sự thật khẩn thiết, chính đáng (như việc hiếu sự của cha mẹ, Thầy Tổ), hành giả tuyệt đối không bước chân ra khỏi ranh giới này.

Đi thưa về trình: Nếu bắt buộc phải ra ngoài, hành giả phải tác pháp xin phép (gửi hạ) và phải đi từ hai vị trở lên để hỗ trợ, yểm trợ cho nhau, không đi cá nhân riêng lẻ. Khi đi phải theo nguyên tắc “trực đáo trực hoàn” (đi thẳng đến nơi làm việc rồi trở về thẳng ranh giới cũ), không được ghé ngang dọc, quanh quẩn trần cảnh. Và điều quan trọng là phải trở về trước khi mặt trời lặn (tức là trước khi minh tướng ẩn, khi nhìn bàn tay không còn thấy rõ các đường chỉ tay nữa).

Chế ngự tâm phóng dật: Bản chất của những quy luật ràng buộc nghiêm khắc này là để đối trị với “tâm viên ý mã” (tâm như con vượn, ý như con ngựa). Tâm chúng sanh rất thích lăng xăng, hay rong ruổi theo trần cảnh bên ngoài. Quy củ chính là chiếc thuyền, là hàng rào bảo hộ giúp hành giả gom tâm về một chỗ.

Lý an cư - Bản chất bên trong, “thân đâu tâm đó”

Đây mới là cốt lõi, quyết định một tuổi hạ có viên mãn, tròn đầy công đức hay không. Nếu thân ở trong hạ trường, không bước ra khỏi cổng chùa, nhưng tâm lại liên tục nghe điện thoại, bàn tán chuyện thế sự, lướt mạng, nhớ nghĩ đến những chuyện vui buồn, thương ghét ngoài đời, thì hành giả đó đã bị “vọng niệm” chi phối, xem như đã “phá hạ” về mặt tinh thần. Lý an cư đòi hỏi sự miên mật trong từng tâm niệm.

Theo tinh thần Tiểu thừa: Người tu phải luôn khít khao, gắn chặt tâm mình vào các đề mục thiền quán như Ngũ đình tâm quán, Tứ niệm xứ (quán thân bất tịnh, quán thọ thị khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã). Rời xa đề mục, quên mất chánh niệm coi như phá hạ.

Theo tinh thần Đại thừa: Tùy theo pháp môn hành trì mà an trú nội tâm từ sáng đến tối, từ niệm này tiếp nối sang niệm kia một cách liên tục. Người tu Tịnh độ thì đi đứng nằm ngồi, ngay cả khi đang nói chuyện, tiếp khách, sáu chữ hồng danh “Nam-mô A Di Đà Phật” vẫn phải là đề mục chủ đạo, luôn hiển hiện trong đại quang minh tại tiền. Người tu Thiền tông thì phải an trú trong công án, thoại đầu (như quán chiếu: “Ai là người đang niệm Phật?”, “Ai đang Thiền quán?”), lắng nghe sâu sắc lời kinh tiếng kệ và soi rọi tự tánh của chính mình.

Mục tiêu cuối cùng của người tu là tìm kiếm hạnh phúc, an lạc và giải thoát. Nhưng sự giải thoát ở đời sau hay cảnh giới Tịnh độ lúc lâm chung không thể tự dưng mà có. Nếu hiện tại nội tâm ta luôn căng thẳng, lo lắng, giận dữ và đau khổ, thì làm sao khi nhắm mắt có thể mỉm cười thanh thản?

Người xưa thường nói “An cư mới lạc nghiệp”. Đối với người xuất gia, cái “nghiệp” ở đây không phải là những danh vọng, sự nghiệp của thế gian, mà chính là Tuệ nghiệp, lấy trí tuệ làm sự nghiệp duy nhất của cuộc đời mình.

Tích lũy công đức và đạo lực: Những giây phút thân yên, tâm định trong mùa an cư chính là lúc người tu nhìn thấu được các chuyển biến của tâm niệm để chuyển hóa chúng, từ đó chế tác ra “đạo lực”. Công đức là thứ vô tướng, không thể cân đo đong đếm hay thể hiện bằng giấy chứng nhận của Giáo hội, mà nó được tích lũy qua năng lượng bình an và chuyển hóa khổ đau. Có đạo lực vững vàng, khi lâm sự, đối diện với nghiệp lực đổ vỡ hay biến cố, hành giả mới có đủ sức mạnh để đối diện và chuyển hóa nghịch cảnh.

Nuôi dưỡng tâm lân mẫn: Khi tâm thực sự an tĩnh, người tu sẽ nhìn vạn vật bằng “từ nhãn” (ánh mắt yêu thương). Tâm từ bi đó không phải là điều gì xa xôi, mà biểu hiện ngay trong sinh hoạt hàng ngày: Biết xót thương, bảo hộ mạng sống của từng sinh linh nhỏ bé như con trùng, con kiến; biết cẩn trọng khi đổ nước lau nhà, đổ nước sôi để không làm tổn hại chúng. Chính tình thương này tạo ra những nhân duyên tốt đẹp, giúp hóa giải các chướng ngại trong đời, chuyển hung thành cát, chuyển mê thành giác.

Tìm giải thoát trong hiện tại: Mục tiêu cuối cùng của người tu là tìm kiếm hạnh phúc, an lạc và giải thoát. Nhưng sự giải thoát ở đời sau hay cảnh giới Tịnh độ lúc lâm chung không thể tự dưng mà có. Nếu hiện tại nội tâm ta luôn căng thẳng, lo lắng, giận dữ và đau khổ, thì làm sao khi nhắm mắt có thể mỉm cười thanh thản? Muốn có kết quả giải thoát mai sau, ta phải biết chế tác chất liệu an vui, hạnh phúc ngay trong từng giây phút hiện tại này.

Ảnh: Quảng Đạo/BGN

Ảnh: Quảng Đạo/BGN

Năm nay, ở Việt Nam Quốc Tự hạ trường được tổ chức để giới tử Đại giới đàn mang tôn hiệu Thanh Kiểm, sẽ được diễn ra vào thượng tuần tháng Tám âm lịch, tập trung tùng Tăng tu học. Để các giới tử có điều kiện học hỏi, được quý thầy giảng dạy, luyện tập cho những căn bản Phật pháp, giới luật, oai nghi, tác phong cần thiết của người tu, chỉnh đốn thật nghiêm túc để đủ tiêu chuẩn đăng đàn thọ giới. Vì thế, các giới tử thọ giới Tỳ-kheo và Sa-di được tùng Tăng tu học trong ba tháng hạ.

Cũng nhằm tạo điều kiện cho các Phật tử về đây học hỏi, nghe giảng và cùng hành trì với quý thầy. Mỗi 14 giờ chiều Chủ nhật hàng tuần, chúng ta sẽ có buổi sinh hoạt dành riêng cho Phật tử và tín đồ các giới. Giúp định hướng cho các vị có chánh kiến, hiểu rõ về những việc mình đang làm.

Trong đạo Phật, việc làm nào cũng có ý nghĩa, ở dân gian những tín ngưỡng nào đều cũng có nội dung. Nếu chúng ta hiểu được ý nghĩa và nội dung việc chúng ta đã làm, đang làm, sẽ làm thì chúng ta sẽ cảm thấy bình yên, hạnh phúc.

Cái khổ nhất là mình không hiểu điều mình làm, mà mình phải làm, để rồi bị những tập quán, thói quen của đời trước khiến đời sau không dám thay đổi. Vì vậy, có những tín ngưỡng dân gian, tập quán của vùng miền bị mai một; chúng ta có làm mà không được giảng dạy, từ chỗ này mà mình cảm thấy bất an, sợ hãi…

Hòa thượng Thích Lệ Trang/Báo Giác Ngộ

Nguồn Giác ngộ: https://giacngo.vn/an-cu-la-de-song-chung-tu-hoc-post80503.html