60 năm trước, người con Đà Nẵng trên đất Triệu Voi
Mùa xuân Bính Ngọ 1966, nhà thơ Lưu Trùng Dương (tên thật là Lưu Quang Lũy) - người con Đà Nẵng, bắt đầu chuyến hành quân trên đất bạn Lào anh em để làm 'nhiệm vụ đặc biệt' là sáng tác văn học, làm phim tài liệu về các lực lượng vũ trang nhân dân Lào.

Nhà thơ Lưu Trùng Dương (ngoài cùng, bên trái) và vợ (thứ 5 từ phải) chụp ảnh cùng con cháu vào dịp Tết năm 1995 tại nhà riêng, ở đường Núi Thành, Đà Nẵng. Ảnh: Gia đình cung cấp.
Sáu mươi năm sau, đọc lại những ghi chép theo dạng nhật ký của nhà thơ Lưu Trùng Dương, hiện lên chân dung của một người lính đầy tinh thần nghĩa vụ quốc tế và chan chứa tình yêu gia đình…
“Trong tim con có nước Lào…”
Lưu Trùng Dương tham gia cách mạng từ rất sớm, vào bộ đội đi chiến đấu sát cánh với nhân dân khu 5 và Tây Nguyên trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Ông là hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam, sáng tác trên cả hai “trận địa” thơ văn và sân khấu, điện ảnh…
Từ những kinh nghiệm trên chiến trường và năng lực hoạt động nghệ thuật đó, mùa xuân năm 1966, Lưu Trùng Dương được cử sang Lào làm chuyên gia văn học - nghệ thuật, với 2 nhiệm vụ chủ yếu là ghi chép, sáng tác về cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Lào và hoạt động của Quân tình nguyện Việt Nam tại Lào, đồng thời là đoàn trưởng, chịu trách nhiệm viết kịch bản, lời bình phim tài liệu về cuộc chiến đấu của quân và dân các bộ tộc Lào anh em.
Những ngày tháng trên đất Lào được ông ghi lại chi tiết theo hình thức nhật ký, đến năm 2012, được Hội Nhà văn Đà Nẵng tổ chức bản thảo và NXB Đà Nẵng xuất bản thành tập ký sự - nhật ký Ghi ở chiến trường C, nhân kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Lào (1962 - 2012) và cũng là dịp Lưu Trùng Dương nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn học - Nghệ thuật đợt thứ 3.
Theo ghi chép, gần 5 giờ sáng ngày 21/4/1966, cả đoàn gồm Lưu Trùng Dương, biên đạo múa Hoàng Hà, nhạc sĩ Doãn Nho, nhà văn Ngọc Tự đến khu căn cứ Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Lào (Bộ Tư lệnh 959) và chính thức bước vào thực hiện nhiệm vụ của chuyến công tác.
Việc đầu tiên của ông, đó là đọc và nghiên cứu tài liệu 20 năm cách mạng Lào do đồng chí Viengxay viết và các tài liệu về quân đội Lào. Viengxay là bí danh của đồng chí Kaysone Phomvihane - sau này là Tổng Bí thư, Chủ tịch Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Chủ tịch nước và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào.
Đọc những tài liệu này, ông cảm nhận: “Hiểu về Cách mạng Lào và Quân đội Lào một cách có hệ thống hơn. Thêm yêu mến nhân dân, đất nước bạn. Thêm thấy rõ trách nhiệm của mình”.
Đến ngày 6/6/1966, đoàn bắt đầu lên đường đi quay phim ở tổ du kích Mường Ngà, trại tù binh Mỹ.
Tại đây, có một tình tiết khá thú vị được Lưu Trùng Dương ghi lại: “Vì trại tù binh Mỹ không có trại trưởng nên mình buộc phải xung phong đóng vai trại trưởng. Trong tình thế này, ông trại trưởng - diễn viên không thể để cho khán giả xem phim thấy rõ khuôn mặt của mình, nên khi quay đến cảnh trại trưởng hỏi cung tù binh Mỹ thì người quay phim đã chú ý chĩa ống kính vào phía sau gáy của ông trại trưởng, và duy nhất chỉ có cái phía sau gáy, sau lưng ấy thôi”.
Trong những ngày trên đất bạn Lào, ông đã làm nhiều bài thơ, để lại dấu ấn tình cảm sâu đậm. Như bài thơ “Gửi Mẹ, bà mẹ Lào của con”, có đoạn kết: “Con chiến đấu xa nhà xa nước/ Nhưng đường đi ấm áp tự hào:/ Trong tim con có nước Lào,/ Có nghìn bà mẹ tình sâu nghĩa dày!...”.
Bài thơ “Bài ca Quân tình nguyện” mà ông ghi chú “có thể sẽ còn sửa thêm nhưng bây giờ hãy tạm chép vào đây” vào ngày 12/7 - sau cuộc họp kiểm điểm chuyến đi: “Đi, ta đi!/ Đất nước Lào bất khuất/ Trong hồn ta ca hát mãi không thôi./ Ta yêu từ đỉnh núi dựng lưng trời/ Đến đóa chăm-pa trong ngôi chùa trầm lặng/ Ta đau nhói tim gan theo từng vết đạn/ Dọc những bản mường lở lói hố bom…”.
“Nhớ nhưng không buồn”
Những ngày xa quê hương, nhà thơ Lưu Trùng Dương hướng về gia đình nhỏ của mình với trái tim ấm áp, ngọt ngào.
Ngày 21/4, khi vừa tới đất Lào, ông “gửi thư nhờ lái xe Dũng mang về cho Nhung. Còn trong túi 6 đồng, nghĩ bụng ở đây không tiêu pha gì nên gửi kèm theo thư để cuối tháng hai mẹ con thằng cu Hướng ở nhà đỡ chật vật được chút nào hay chút ấy”.
Nhung - được ông nhắc tới, là họa sĩ Trần Thị Mỹ Nhung - vợ ông, lúc đó đang công tác tại Nhà máy Bóng đèn - Phích nước Rạng Đông, Hà Nội - mà trước khi đi chiến trường C, ông “viết thư cho chị Phấn và Đảng ủy nhà máy để gửi gắm Nhung”. Còn cu Hướng là con trai đầu lòng Lưu Hướng Dương.
Ngày 5/5, ông viết trong nhật ký: “Hôm nay là ngày sinh của mình đây. Nhớ lại cách đây hơn nửa tháng, Nhung đã làm thịt một con gà gọi là ăn mừng sinh nhật của mình trước lúc lên đường đi xa. Nhung ơi, bây giờ ở xa nhau, ôn lại những ngày sống gần nhau, anh thấy có lỗi với em, anh hay cáu gắt với em. Cái tật xấu này nhất định từ đây phải bỏ hẳn đi”;
“… từ bữa sang chiến trường C, có thể nói đêm nào anh cũng nhớ em và nhớ con. Nhớ nhưng không buồn. Đó là một nỗi nhớ lâng lâng, chứa chan bao niềm hy vọng và rất nhiều khích lệ”.
Điều đó được nhà thơ Lưu Trùng Dương giải thích một cách cặn kẽ hơn: “Anh hiểu rằng anh đi ra mặt trận là làm một nghĩa vụ vinh quang, là đi chiến đấu vì nhân dân hai nước Việt - Lào, vì hạnh phúc của hai quê hương đất nước, trong đó có hạnh phúc của cái gia đình nhỏ của chúng ta. Nhớ em và con, anh càng thêm cố gắng làm việc, càng tập trung tinh thần và sức lực để sống cho mãnh liệt, sáng tác cho thật tốt. Trong hoàn cảnh gian khổ, ác liệt của chiến trường, anh được rèn luyện, thử thách và thêm khỏe mạnh cả về tâm hồn lẫn cơ thể”.
Từ ngày 8 đến 17/5, Lưu Trùng Dương trở về Hà Nội để báo cáo kết quả chuyến đi; và Xưởng phim Quân đội quyết định làm bộ phim “Vài hình ảnh về các lực lượng vũ trang nhân dân Lào”, trong đó ông giữ vai trò là biên kịch, viết lời bình kiêm đạo diễn, trưởng đoàn làm phim.
Chỉ gần một tháng hai mươi ngày sau đó, trở lại chiến trường C để làm phim, trên đường công tác, ông nhận được thư vợ. Ngày 5/7, ông viết: “Đọc thư em nhiều lần. Đọc dưới ánh đèn pin lúc ngồi trên xe ô tô. Yêu em và nhớ con vô hạn… Đêm nay tranh thủ viết xong lần thứ nhất bài thơ Ở chiến trường nhận được tin vợ sắp đẻ”.
Bài thơ ấy có những câu mộc mạc: “Thư anh đến tay em/ Chắc sau ngày sinh đẻ/ Chắc em đã đặt tên/ Cho con rồi đấy nhỉ?”, nhưng cũng tràn đầy hy vọng: “Chào đời trong bom đạn/ Con sẽ sống kiên cường/ Lớn lên cùng chiến thắng/ Con càng sống đẹp hơn”.
Nhưng đứa con ấy lại “chờ” đến khi nhà thơ hoàn thành chuyến công tác trở về, mới ra đời. Ngày 17/7, 4 giờ sáng chủ nhật, cả đoàn về tới Hà Nội, 6 giờ ông làm việc với biên kịch, đạo diễn Dương Minh Đẩu ở Xưởng phim Quân đội, đến 11 giờ tìm về chùa Thầy nơi vợ con đang sơ tán. Đến trưa 18/7, ông để vợ trên xe đạp dắt đi bệnh xá Quốc Oai sinh đứa con thứ hai là Lưu Bạch Dương.
Thấy “mẹ tròn con vuông”, mấy bà hàng xóm đùa vui: “Thằng bé này khôn lắm, đợi bố nó từ mặt trận về đến nhà nó mới chui ra khỏi bụng mẹ”. Nhưng ông nghĩ: “Họ nói nghe cũng hay nhưng mình lại nghĩ có lẽ vì xa nhau lâu ngày mới được gặp nhau nên Nhung xúc động mạnh mà sớm chuyển bụng như người ta thường nói”.
Khi dịch bộ phim “Vài hình ảnh về các lực lượng vũ trang nhân dân Lào” của Xưởng phim Quân đội do ông làm trưởng đoàn thực hiện trong chuyến công tác này, thì lại nảy ra vấn đề mới: cần một cái tên Lào cho tác giả chính của bộ phim. Không nghĩ ngợi nhiều, ông lấy bút danh là Ka-ma-nhi (tiếng Lào có nghĩa là Nhung).
Cuốn nhật ký của Lưu Trùng Dương kết thúc vào ngày 16/8/1966, khi ông đang ngồi viết bản lời bình thì nhận được quyết định chuyển sang công tác tại Đài Phát thanh Giải phóng với chức vụ Phó Trưởng phòng phát thanh Quân giải phóng miền Nam…
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/60-nam-truoc-nguoi-con-da-nang-tren-dat-trieu-voi-3321543.html














