Viên Tri phủ đầu tiên của phủ Tam Kỳ

Những tư liệu mới từ Châu bản triều Nguyễn giúp xác định rõ thời điểm thành lập phủ Tam Kỳ, đồng thời làm sáng tỏ danh tính viên Tri phủ đầu tiên của vùng đất này.

Trang đầu của bản “Tấu của Bộ Lại về việc Khâm sứ đại thần Lê Viết và Công sứ Hội An xin điều Tri phủ Tam Kỳ về Kinh” (Trích sách Hội An qua Châu bản Triều Nguyễn). Ảnh: Tư liệu

Trang đầu của bản “Tấu của Bộ Lại về việc Khâm sứ đại thần Lê Viết và Công sứ Hội An xin điều Tri phủ Tam Kỳ về Kinh” (Trích sách Hội An qua Châu bản Triều Nguyễn). Ảnh: Tư liệu

Qua đó, một lát cắt về bộ máy hành chính, cách dùng người của triều Nguyễn và bối cảnh lịch sử đầy biến động của Tam Kỳ đầu thế kỷ XX cũng dần hiện lên rõ nét.

Phủ Tam Kỳ thuở mới thành lập

Nhiều tài liệu trước đây cho biết phủ Tam Kỳ được thành lập vào năm Thành Thái thứ 18 (1906) nhưng không ghi rõ ngày, tháng. Gần đây, qua sách Đại Nam Thực lục chính biên Đệ lục kỷ phụ biên của Quốc sử quán triều Nguyễn, chúng ta biết thời điểm thành lập phủ Tam Kỳ là tháng 6 cùng năm: “Năm Bính Ngọ Thành Thái thứ 18 (1906 Tây lịch)… Tháng 6. Đổi huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, huyện Hà Đông, tỉnh Quảng Nam làm phủ”.

Cũng theo sách, nguyên nhân đổi huyện Hà Đông thành phủ vì đây là “huyện địa thế rộng lớn, dinh điền quá nhiều” (NXB Văn hóa - Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 2012, tr. 501). Tuy nhiên, trên thực tế, không chỉ hai lý do trên, bởi người Pháp và Nam triều đã thấy vai trò ngày càng quan trọng của Tam Kỳ với tư cách trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa phía nam của tỉnh Quảng Nam, do đó đã đặt tại Tam Kỳ Tòa Đại lý (Đồn Đại lý) thuộc Tòa Công sứ Quảng Nam để giám sát chính quyền Nam triều nơi đây.

Vậy, viên Tri phủ đầu tiên của phủ Tam Kỳ là ai? Một tư liệu công bố gần đây đã cho chúng ta thông tin quý giá liên quan viên Tri phủ đầu tiên của phủ Tam Kỳ. Đó là bản “Tấu của Bộ Lại về việc Khâm sứ đại thần Lê Viết và Công sứ Hội An xin điều Tri phủ Tam Kỳ về Kinh” (Hội An qua Châu bản Triều Nguyễn, NXB Đà Nẵng, 2021, tr. 242-246). Bản tấu được dịch nghĩa, có đoạn như sau:

“Ngày 24 tháng 6 năm Duy Tân thứ 2 (1908). Bộ Lại kính tâu: Vào ngày 11 tháng này có nhận tư văn của Khâm sứ đại thần Lê Viết và Công sử Hội An đề nghị điều Tri phủ phủ Tam Kỳ là Trần Ngọc Tú về Kinh nhận chức do viên chức này thiếu phẩm hàm tương đương, và nay nên đổi bổ chức khác cho ông ấy để làm việc tốt hơn, do vậy chư vị đại thần đề xuất nghĩ điều bổ ông ấy vào hàm Viên Ngoại lang của Ty Bộ Lễ… Còn việc phủ Tam Kỳ thiếu người thì bổ Tri huyện huyện Duy Xuyên Nguyễn Hữu Lâm nhận lãnh Tri phủ tại phủ ấy”.

Qua đoạn trích trên, cho thấy vào tháng 6 năm Duy Tân thứ 2 (1908), Tri phủ nhận chức đương chức của phủ Tam Kỳ là Trần Ngọc Tú, người được đề cử thay Trần Ngọc Tú là Nguyễn Hữu Lâm, Tri huyện Duy Xuyên.

Trần Ngọc Tú và hai năm đứng đầu phủ Tam Kỳ

Cũng theo lời tấu trên, Trần Ngọc Tú, 52 tuổi (sinh năm 1855), người tỉnh Quảng Trị. Năm Tự Đức thứ 34 (1881), ông được bổ làm Thừa biện tại huyện; tháng 3 năm Thành Thái thứ 6 (1894), bổ nhận hàm Chánh Cửu phẩm, thăng lên Tòng lục phẩm, chức Ty kinh lịch tỉnh Quảng Nam. Tháng 4 năm Thành Thái thứ 6 (1894), nhận chức Tri huyện Hà Đông; tháng 6 năm Thành Thái thứ 18 (1906), tức là thời điểm thành lập phủ Tam Kỳ, nhận chức Tri phủ Tam Kỳ; tháng 6 năm Thành Thái thứ 19 (1907), thực nhận hàm chức vụ.

Còn Tri huyện Duy Xuyên Nguyễn Hữu Lâm, 41 tuổi, Cử nhân sung Ký lục. Tháng 12 năm Thành Thái thứ 8 (1896) nhận hàm Biên tu, nhận chức Tri huyện Duy Xuyên. Tháng 2 năm Duy Tân thứ 2 (1908), thăng chính thức chức vụ Tri huyện Duy Xuyên. Nguyễn Hữu Lâm là người được đánh giá “có tài mẫn cán phục sự đã lâu, việc dân chính đã thật am tường”. Đoạn cuối của lời tấu là dòng chữ “Vậy nay kính trình, xin đợi chỉ để tuân hành” và danh sách, chữ ký của các quan chức liên quan đến việc tấu của Bộ Lại.

Trần Ngọc Tú làm Tri phú Tam Kỳ cũng là thời điểm tỉnh Quảng Nam nói chung, phủ Tam Kỳ nói riêng có nhiều biến động dữ dội về mặt xã hội. Đặc biệt, phủ Tam Kỳ là địa phương diễn ra sôi nổi phong trào Duy tân và phong trào chống thuế 1908. Hầu hết các làng ở Tam Kỳ đều có cơ sở Duy tân mà chính quyền thực dân rất lo lắng đến nền cai trị. Đây cũng là nơi hơn 3.000 người dân tham gia biểu tình chống thuế vây phủ đường Tam Kỳ, đòi trừng trị tên Đề Tuệ (Trần Tuệ) gian ác.

Nhiều nhà lãnh đạo phong trào yêu nước có quê ở Tam Kỳ, như Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Dương Thưởng, Dương Thạc, Trần Thuyết… Các phong trào đấu tranh yêu nước bị đàn áp dã man, nhiều chí sĩ yêu nước của Tam Kỳ bị giam cầm, bị xử chém… Những sự kiện đó, chắc chắn liên quan đến vai trò và trách nhiệm cá nhân của Trần Ngọc Tú với tư cách là Tri phủ.

Tóm lại, qua lời tấu trên, nếu không có tư liệu chính thống nào khác, cho thấy Trần Ngọc Tú là viên Tri phủ đầu tiên của phủ Tam Kỳ, dù có thời gian còn mang tính tạm quyền vì chưa đủ phẩm hàm theo quy định và nếu lời tấu trên được xét duyệt thì ông làm Tri phủ Tam Kỳ từ tháng 6 năm Thành Thái thứ 18 (1906) cho đến tháng 6 năm Duy Tân thứ 2 (1908), tròn hai năm. Còn trước đó, ông giữ chức Tri huyện Hà Đông hơn 12 năm và đây là khoảng thời gian cần thiết để một người từ nơi khác đến hiểu về đất và con người Tam Kỳ và có lẽ đó là một cơ sở để ông được bổ từ Tri huyện Hà Đông lên Tri phủ Tam Kỳ khi thành lập.

PHAN XUÂN QUANG

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/vien-tri-phu-dau-tien-cua-phu-tam-ky-3345950.html