Viễn Phương và giấc mơ nhỏ giữa mùa xuân lớn
Ba tôi là một nhà thơ mà cuộc đời và trái tim đã gắn bó mật thiết với những biến động của đất nước. Khi xuân rộn ràng trên đất nước, tôi lại nhớ về ông, không chỉ vì tình cảm cha con, mà còn bởi ông đã sống một đời gắn với chiến tranh, với thơ ca, và với những chọn lựa không dễ dàng của một người chiến sĩ - nghệ sĩ.
Năm 1945, khi mới 17 tuổi và đang học Collège de Cần Thơ (nay là THPT Châu Văn Liêm), ba tôi đã gác lại con đường học vấn để tham gia kháng chiến, trong thời khắc đất nước vừa giành được độc lập. Cuộc sống hào sảng của người chiến sĩ giữa vùng sông nước phương Nam, cùng với tình yêu thi ca sớm nhen nhóm trong ông, đã đưa ba tôi đến với Chi hội Văn nghệ Nam bộ, nơi ông bắt đầu bước vào con đường sáng tác, lấy bút danh Phương Viễn. Dù phần lớn sáng tác giai đoạn này bị thất lạc do chiến tranh, ông vẫn để lại dấu ấn với trường ca Chiến thắng Hòa Bình, được trao giải thưởng Cửu Long năm 1952.
Kháng chiến kết thúc, hành trình cầm bút của ba tôi giữa lòng đô thị miền Nam lại bắt đầu bằng một cuộc chiến khác, cuộc chiến âm thầm của ngòi bút phản kháng.
Sau năm 1954, ông trở lại Sài Gòn, tiếp tục viết văn, làm báo và dạy học. Các sáng tác thời kỳ này, với bút hiệu Viễn Phương, thấm đẫm khát vọng hòa bình và tinh thần phản chiến. Những truyện ngắn như Lão Triệu, Sắc lụa Trữ La, Tình Yên Phượng, Võ An Quân… là tiếng nói lặng lẽ nhưng rõ ràng. Trong Võ An Quân, ông viết:
Bạch Khởi có nghe sông núi thét,
Bạo tàn đâu khuất được lòng dân!
Tác phẩm được chuyển thể thành vở cải lương do soạn giả Duy Lân chấp bút, với sự tham gia của nhiều nghệ sĩ nổi tiếng bấy giờ. Vở diễn đã gây tiếng vang, tác động xã hội, nhưng cũng bị đánh phá bằng lựu đạn, một cái giá quá đắt cho tự do tư tưởng. Cầm bút khi ấy không chỉ để viết, mà là để đứng lên.

Nhà thơ Viễn Phương (trước) và đạo diễn Ngô Y Linh (phía sau) tại chiến khu Củ Chi 1972. Ảnh tư liệu
Ông bị bắt ngay trên bục giảng ở Đồng Tháp. Khi đó ông chỉ mới 32 tuổi, má tôi còn trẻ với hai con nhỏ, và tôi thì vừa mới chào đời. Trong tù, ông vẫn làm thơ. Không oán thán, ông chọn giọng thơ tự trào như một cách giữ tâm hồn tự do giữa đời sống bị giam cầm:
Trước có đánh Tây làm chiến sĩ
Sau thường múa bút gọi văn nhân
Ở tù chỉ có hai quần cụt
Hết áo nên tôi thích ở trần
Ba năm sau, ông được thả ra nhưng vẫn bị quản thúc. Mỗi sáng ông đến tòa soạn làm báo, mỗi tháng phải trình diện định kỳ tại Ty Cảnh sát. Cuộc sống như vậy, ông không gọi là tự do. Rồi một ngày, ông lặng lẽ rời nhà, vào chiến khu, không lời từ biệt, không một dấu vết.
Ông từng nói trong gia đình: “Không thể sống trong một xã hội mà người cầm bút, cầm phấn lại bị giam cầm vì tham gia kháng chiến, vì tư tưởng”. Với ông, trở về chiến khu không phải để trốn chạy, mà để tiếp tục một hành trình, hành trình của người viết sống đúng với niềm tin của mình.
Má tôi không hề hay biết. Khi cảnh sát đến hỏi, bà thật sự không biết gì để nói. Mãi sau này, ông mới nhắn giao liên về báo tin. Má giận, nghĩ ông không tin vợ con. Nhưng ông giải thích: “Anh đã ở tù. Họ đánh rất đau. Thà em không biết gì, có bị tra khảo cũng không có gì để khai”. Sự im lặng ấy, hơn mọi lời thề thốt, là cách ông chọn để bảo vệ người thân.
Từ đó là những năm dài đợi chờ. Những lá thư tay trở thành sợi dây mong manh nối hai đầu chiến tuyến. Ít ỏi, nhưng thấm đẫm tình yêu và sự kiên cường. Trong bài thơ Đám cưới giữa mùa xuân (1965), ông nhắc đến một lá thư đẫm máu, thật đến se thắt:
... Đã bốn năm rồi mình chẳng gặp nhau,
Chỉ có lá thư trên trang giấy nhỏ
Đã đến tay anh một ngày nắng gió...
(Lá thư còn thấm máu chị giao liên
Trên bước đường công tác đã hy sinh)…
Có những đêm, má tôi lặng lẽ lén mở Đài Giải phóng, lặng người khi nghe ngâm thơ của Viễn Phương. Đó là bằng chứng rằng ông còn sống, còn viết, ở một nơi mà lý tưởng và thơ ca không thể tách rời…
Rồi cũng đến ngày ông trở về, sau mùa xuân thống nhất. Câu thơ trong Đám cưới giữa mùa xuân như một hình ảnh sum vầy sau nhiều năm xa cách:
Tiếng súng vừa im, cử hành lễ cưới
Giữa mùa xuân chiến thắng của quê mình
Có đôi bồ câu trắng vượt trời xanh…
Từ đó, ông tiếp tục làm văn nghệ, viết báo, sống giản dị. Ông thường nói: “Nhiều người giỏi hơn tao đã chết trong chiến tranh rồi, tao chỉ là người may mắn”. Câu nói nhẹ tênh ấy ẩn chứa một nỗi day dứt lớn, nợ nần với đồng đội, với những người đã nằm lại.
Dù sống giữa thời bình, ông luôn mang trong lòng nỗi nhớ về những người bạn chiến đấu đã ngã xuống. Họ đến từ khắp mọi miền, chiến đấu và nằm lại trên mảnh đất này. Trong văn bia tại Đền Bến Dược, Củ Chi (Viễn Phương, 1987), ông nhớ về những đồng đội:
… Đêm lánh lót tiếng ca quan họ,
Nghe ngọt ngào điệu hát cải lương,
Hò mái đẩy ngân nga dìu dặt,
Giọng bài chòi tha thiết nhớ thương…
Với tôi, ba không chỉ là nhà thơ. Ông là người ít nói nhưng giàu yêu thương, người luôn sống sâu sắc và tự trọng, một người cha đầy trách nhiệm và bao dung. Gia đình tôi quen với sự vắng mặt của ba, quen với việc nhận thư qua tay giao liên, quen cả với những lo âu lặng lẽ của má. Nhưng dù xa cách, ông chưa bao giờ vắng mặt trong đời sống của chúng tôi, qua thơ, qua những câu nói, và cả những nguyên tắc sống mà ông giữ như một lẽ tự nhiên.
Trong gia đình, hầu như ai cũng hiểu, dù là người cha hiền lành, thương vợ, thương con, ông vẫn giữ cho riêng mình những nỗi niềm sâu kín, mà đôi khi chúng tôi vô tình chạm đến. Đó là đất nước và má tôi. Vì cả đời ông đã dành cho đất nước và cả đời “má bây đã chờ đợi và trọn vẹn với gia đình”, ông vẫn nói thế.

Năm 1968, trước khi vào chiến khu, cả gia đình nhà thơ Viễn Phương đã đi tiệm chụp tấm ảnh này vì nghĩ “chiến tranh mà, lỡ có chuyện gì thì cũng có một tấm ảnh gia đình đầy đủ”. Trong ảnh: vợ chồng nhà thơ Viễn Phương, con trai lớn (đứng) và tác giả Phan Thanh Bình (ngồi). Ảnh tư liệu gia đình
Giờ nghĩ lại, tôi hiểu, tình cảm của ông dành cho gia đình chưa bao giờ tách rời khỏi tình yêu đất nước. Với ông, đó là một, cũng là tất cả.
Cả cuộc đời, ông mãi đau đáu về một mùa xuân lớn của quê hương, mùa xuân mà ông và đồng đội từng mơ tới. Tôi vẫn nhớ câu thơ trong bài Nỗi nhớ hậu phương ông viết năm 1982, cũng là câu tôi tin, ông để lại như một nốt lặng sâu thẳm cho cuộc đời mình: Trăn trở hồn tôi gió nổi suốt đêm.
Phải chăng đó cũng là lời tổng kết cho một đời thi sĩ? Một đời không ngơi nghỉ, không thỏa hiệp, một tâm hồn nhạy cảm mà kiên cường, luôn thao thức cùng vận mệnh quê hương, kể cả trong những giấc mơ nhỏ giữa mùa xuân lớn.
Và mỗi mùa xuân đến, tôi lại thì thầm câu thơ ấy, nhớ về người cha đã sống trọn vẹn với đất nước, với gia đình và với thơ.
Nhà thơ Viễn Phương (1928 - 2005), tên thật Phan Thanh Viễn, người quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (nay là An Giang). Một số tác phẩm Thơ: Mắt sáng học trò (1970), Viếng lăng Bác (1976), Như mây mùa xuân (1978), Phù sa quê mẹ (1991), Thơ với tuổi thơ (2002), Gió lay hương quỳnh (2005). Trường ca: Chiến thắng Hòa Bình (1952), Nhớ lời di chúc. Truyện ngắn: Sắc lụa Trữ La (1988), Lòng mẹ (1982), Ngôi sao xanh (2003). Truyện ký: Anh hùng mìn gạt (1968), Quê hương địa đạo (1981), Ngàn say mây trắng (1998), Miền sông nước (1999), Tháng bảy mưa ngâu (1999, đã dịch sang tiếng Anh), Đá hoa cương (2000), Hình bóng thương yêu (2005)...












