Trong bối cảnh nền kinh tế đang khát vốn để bứt tốc những tháng cuối năm 2026, hàng loạt chính sách vĩ mô linh hoạt đã được ban hành, nổi bật là Nghị định 316/2026/NĐ-CP giúp ngân hàng thương mại nhà nước gia tăng nguồn lực tài chính. Việc cắt giảm lãi suất thực chất đang mở ra dư địa lớn, hướng dòng tiền vào đúng các động lực tăng trưởng.
Dư nợ tín dụng đối với hoạt động kinh doanh bất động sản đã vượt 2,5 triệu tỷ đồng vào cuối tháng 6/2026, tăng gần 13% chỉ sau một quý. Tuy nhiên, chi phí vốn cao và điều kiện tín dụng chặt chẽ đang khiến khả năng tiếp cận vốn giữa các doanh nghiệp, dự án và người mua nhà phân hóa rõ nét.
Việc nhiều ngân hàng đồng loạt giảm lãi suất cho vay, tung ra các gói tín dụng ưu đãi quy mô lớn hàng trăm nghìn tỷ đồng cho doanh nghiệp nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa được kỳ vọng tạo thêm động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế những tháng cuối năm. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Đại học Nguyễn Trãi, điều quan trọng không chỉ là quy mô hay giá vốn, mà là khả năng đưa dòng vốn đến đúng doanh nghiệp, đúng thời điểm và những lĩnh vực có khả năng tạo ra năng suất, công nghệ và giá trị gia tăng cho nền kinh tế.
Lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Khu vực 15 cho rằng tăng trưởng tín dụng trên địa bàn trong nửa đầu năm nay thấp hơn bình quân cả nước. Do đó, các tổ chức tín dụng cần tiếp tục khơi thông dòng vốn cho kinh tế địa phương nhưng không hạ chuẩn tín dụng để chạy theo tăng trưởng.
Thay vì áp dụng một cơ chế chung, tín dụng bất động sản cần được phân loại theo mức độ rủi ro, ưu tiên dòng vốn cho những dự án có khả năng hoàn thành, phục hồi, qua đó nâng hiệu quả sử dụng vốn và hạn chế rủi ro cho hệ thống tài chính.
Trong không gian phát triển mới, tỉnh An Giang đang đẩy mạnh thu hút đầu tư, mở rộng sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập quốc tế. Giữ vai trò quan trọng trong cung ứng vốn cho nền kinh tế. Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Chi nhánh Khu vực 15 đang điều hành tín dụng theo hướng an toàn, hiệu quả, ưu tiên sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực có lợi thế của địa phương.
Tín dụng bất động sản (BĐS) phục vụ phát triển thị trường hiện nay không đơn thuần nằm ở việc Nhà nước siết chặt hay mở rộng, quan trọng hơn là dòng vốn được huy động phân bổ vào đâu, phục vụ mục đích gì và đi kèm mức độ rủi ro nào.
Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam đến năm 2045 hướng tới cân bằng hệ thống tài chính, giảm phụ thuộc tín dụng và nâng hiệu quả phân bổ vốn.
Tín dụng bất động sản tăng nhanh hơn tín dụng chung khiến yêu cầu kiểm soát dòng vốn tiếp tục được đặt ra nhưng VARS IRE cho rằng việc áp dụng một cơ chế kiểm soát đồng nhất cho toàn thị trường có thể làm hạn chế dòng vốn vào những dự án có pháp lý đầy đủ, khả năng triển khai và nhu cầu thực.
6 tháng đầu năm 2026, dư nợ tín dụng trên địa bàn tỉnh An Giang đạt trên 282.000 tỷ đồng, tăng 4,53% so cuối năm 2025; khoảng 82% dòng vốn được đưa vào sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế còn hạn chế, đòi hỏi chính quyền, ngân hàng và doanh nghiệp cùng tháo gỡ những điểm nghẽn để dòng vốn đi vào thực chất.
Tạo thêm dư địa tín dụng cho các dự án hạ tầng trọng điểm, có tính lan tỏa là một trong những giải pháp nhằm hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số. Tuy nhiên, theo chuyên gia, vấn đề không chỉ nằm ở quy mô tín dụng được mở rộng, mà quan trọng hơn là tiến độ giải ngân, khả năng cân đối nguồn vốn và kiểm soát dòng tiền sau giải ngân, bảo đảm vốn được sử dụng đúng dự án, đúng mục đích...
Tín dụng/GDP của Việt Nam dự báo tiếp tục leo dốc, lên 155% năm 2026, gia tăng áp lực khi tín dụng đã ở nền cao. Trong khi dòng vốn vẫn tìm về "chỗ trũng", yêu cầu điều hướng tín dụng, nâng chất lượng tín dụng và tăng cường kiểm soát rủi ro ngày càng được đặt ra rõ nét.
Quy mô tín dụng lớn chưa đồng nghĩa dòng tiền đã thực sự đến với doanh nghiệp. Khi chi phí vốn còn cao, khả năng tiếp cận tín dụng còn hạn chế và thời điểm giải ngân có thể quyết định hiệu quả kinh doanh, câu hỏi quan trọng không chỉ là có bao nhiêu vốn, mà là bao nhiêu vốn được giải ngân từ các kênh khác ngoài ngân hàng đúng lúc và đến đúng nơi cần vốn.
Khả năng tiếp cận dòng vốn đang quyết định tốc độ đầu tư tiết kiệm năng lượng trong công nghiệp, tạo nền tảng cho quá trình chuyển đổi năng lượng.
Tăng trưởng cao kéo theo nhu cầu đầu tư lớn cho hạ tầng, năng lượng, công nghiệp chiến lược, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Tuy nhiên, cấu trúc cung ứng vốn hiện vẫn dựa nhiều vào ngân hàng, trong khi nguồn huy động chủ yếu là ngắn hạn.