Tứ nữ họ Đoàn
'Thi phẩm tứ nữ họ Đoàn' là tập thơ đặt bốn nhà thơ nữ cùng họ trong một không gian đối thoại hiếm gặp: Đoàn Thị Tảo, Đoàn Thị Ký, Đoàn Thị Lam Luyến, Đoàn Ngọc Thu.
Điểm hấp dẫn của tuyển tập không nằm ở “cùng họ” như một tình cờ tiểu sử, mà nằm ở sự khác biệt thế hệ, khác biệt giọng nói nghệ thuật, và nhất là ở cách bốn tác giả cùng “đi qua” những miền chủ đề quen thuộc của thơ nữ Việt Nam đương đại như: tình yêu – thân phận – gia đình – ký ức – Hà Nội và sự cô đơn.
Từ nhịp điệu thơ đô thị với nhiều ẩn dụ
Trong tuyển tập này, nhà thơ Đoàn Ngọc Thu hiện lên như một người viết của đô thị và thời cuộc, nhưng vẫn mang cái lõi muôn thuở của tình yêu và cô đơn. Những bài như “Bão cảm”, “Sau bão”, “Người đàn bà uống rượu dưới trăng”, “Hà Nội hoài ức”, “Đêm Hà Nội mùa đông COVID”… mở ra một bối cảnh thời đại rõ hơn: thơ không đứng ngoài những biến cố của đời sống xã hội.

Tứ nữ họ Đoàn: Luyến, Thu, Tảo, Ký trong chương trình gặp gỡ ra mắt sách.
Với Ngọc Thu, thơ đô thị hậu hiện đại của nỗi buồn lộng lẫy, ngôn từ giàu chất tạo hình, nhịp thơ như dòng ý thức như bài “Màu của hạnh phúc” dưới đây: “Khuấy buổi chiều trong đáy tách caphe/ Đếm giọt/ biết bao đắng để nêm đường đủ ngọt?/ Giữa ồn ào phố xá ngoài kia/ Đâu thanh âm muốn được nghe?/ Điều bình dị, một ngày bỗng thành xa xỉ/ nếu ước nguyện có thể thành sự thực/ ngàn mong muốn tựu gom chỉ một/ Chẳng cần tỏ tường, cũng thưa thốt…/ nào ai biết Hạnh phúc có màu gì/ Sớm nay pha sương vào nắng/ nụ cười con tràn trên toan”.
Nỗi buồn trong thơ Đoàn Ngọc Thu mang trường mỹ cảm của cái đẹp, đó là nỗi buồn được trang trí bằng ánh sáng, mùi hương, màu sắc, không gian. Đặc biệt, hình tượng “bão” xuất hiện như một ẩn dụ tâm lý, bão là cơn ghen, bão là bất lực và cuồng nộ của cơ thể tinh thần đàn bà. Và “sau bão” là hoang tàn không thể phục nguyên như một tuyên ngôn.
Đoàn Ngọc Thu thiên về thơ tự do mang hơi hướng dòng ý thức. Câu thơ của chị thường dài, xô nhau, có sức đẩy của một dòng tâm trạng. Chị hay tăng cường cảm giác dồn dập trong mô tả, và dùng cách ngắt nhịp để tạo khoảng trống, khiến người đọc nghe được độ ngân rơi của cảm xúc. Với những đoạn xuống dòng bất ngờ, những cụm từ chẻ nhỏ… tạo cảm giác thơ như một thước phim khi camera lúc cận cảnh, lúc toàn cảnh. Đây là kiểu thi pháp phù hợp với một tâm thế hiện đại sống trong nhiều lớp thông tin, nhiều tốc độ cảm xúc, nhiều biến cố liên tiếp.
Nếu Đoàn Thị Tảo tối giản và sắc lạnh, thì Đoàn Ngọc Thu lại giàu tính vật chất, chữ của chị có mùi, có độ ẩm, có tiếng động. “Bão” không chỉ là một ý niệm, nó là một thân thể: nóng, bốc hỏa, thở dốc, ngồi bệt, rồi lại quay về “dữ dằn hơn”. Cách nhân hóa này khiến thơ Đoàn Ngọc Thu có sức sống mạnh với cảm xúc không trừu tượng mà có hình hài.
Ngôn từ Đoàn Ngọc Thu vì vậy thường hướng đến tính tạo hình và tính cảm giác để người đọc không chỉ hiểu mà còn “thấy” và “chạm” được. Đây là một lựa chọn thẩm mỹ rõ ràng của thơ đô thị đương đại, biến trạng thái tâm lý thành phong cảnh, biến phong cảnh thành tâm lý.
Đoàn Ngọc Thu là giọng thơ hiện đại của nỗi buồn, nơi cảm xúc được viết như một cảnh giới nghệ thuật u tối nhưng vẫn đẹp, đậm chất thơ tự do, câu có thể dài, tràn, giàu liệt kê và nhịp “trôi” như dòng ý thức, thơ tổ chức diễn ngôn gần “phim”: nhiều cảnh, nhiều lớp cảm giác, tạo dựng không gian đô thị và thời đại và thơ có xu hướng mở hơn là đóng ở một kết luận rõ ràng.
Trong khi đó nhà thơ Đoàn Thị Lam Luyến đã làm chủ mạch thơ của bản năng yêu và thân phận đàn bà với những ẩn dụ mạnh, tứ thơ kịch tính, ngôn từ vừa dân gian vừa hiện đại. Trong thế giới nội tâm của thơ chị, ta thấy tình yêu như bão lũ, và đời đàn bà như một cuộc cược Đoàn Thị Lam Luyến là giọng thơ “có lửa”. Chủ đề tình yêu trong thơ chị thường không mang vẻ lãng mạn nhẹ nhàng, mà mang chất bạo liệt, cực đoan, dấn thân: yêu như cháy rừng, như lũ sông Hồng, như cơn khát trái cấm.
Tình yêu trong thơ Lam Luyến không chỉ là cảm xúc, nó là số phận, là nơi người đàn bà đối mặt với thua – được, đúng – sai, danh dự – tổn thương. Điều này liên kết trực tiếp với một mạch chủ đề khác là thân phận đàn bà. Đây là tiếng nói vừa tự thương, vừa tự ý thức khi chị không ngây thơ trước đời, nhưng vẫn “dại yêu” như một lựa chọn bản năng. Thi pháp của Lam Luyến là thơ tự do đan cùng nhịp dân gian, kết hợp giữa đối thoại, kêu gọi và độc thoại.
Những ấn tượng này thấy rõ trong bài thơ “Em gái”: "Em đầy ngộ nhận như tôi/ Cũng yêu chí chết cái người mình yêu/ Cũng tìm những lối phong rêu/ Để rồi bước trật, bước trèo - uổng công/ Mắt thì thăm thẳm mùa đông/ trái tim mùa hạ, tấm lòng mùa thu/ Mùa xuân ở phía xa mù/ Mà băng giá... biết bao giờ cho tan!/ Gặp cơ nhỡ em cưu mang/ Em đâu tính đến lỡ làng về sau/ Em đương lấy sóng làm cầu/ Khơi xa làm bến, đáy sâu làm thuyền/ Lấy mất mát để làm yên/ Đem duyên làm phúc, lấy tiền làm khinh/ Rồi ra em giống chị mình/ Lấy bấy nhiêu cái thất tình làm vui!”.
Lam Luyến di chuyển linh hoạt giữa thể tự do và nhịp truyền thống, nhịp điệu lại gần ca dao, như lời mẹ truyền đời. Ngoài ra, thơ chị hay dùng cấu trúc đối thoại. Nghệ thuật ngôn từ của Lam Luyến là ẩn dụ cực mạnh với trường từ vựng lửa, bão, biển và sự táo bạo của khẩu khí.
Ngôn từ của Lam Luyến có hai mặt đồng thời, một mặt dân gian, đời thường, giàu thành ngữ, giàu nhịp nói, gần lời ăn tiếng nói. Một mặt hiện đại, táo bạo, dám đẩy cảm xúc lên tận cùng, dám gọi tên tổn thương, dám phơi cấu trúc bất công trong tình yêu, thơ chị kéo người đọc vào một cuộc xoáy, vừa mê vừa đau, vừa muốn quay đi vừa bị giữ lại.
Đến dòng thơ tự vấn của tình yêu cô đơn
Trong tập này, thơ của Đoàn Thị Tảo là thơ của tự vấn và vùng tối thân phận với ngôn từ tối giản, ám ảnh, giàu nhịp nội tâm. Thế giới nội dung của thơ chị là những cô đơn, định mệnh, những đổ vỡ không ồn ào. Đoàn Thị Tảo xuất hiện trong tuyển tập với một khí quyển buồn sâu, buồn nén. Nhân vật trữ tình thường đứng ở thế độc hành, nhìn đời như một chuỗi thiếu hụt thiếu may mắn, thiếu bình yên.
Trong bài thơ “Năm tôi chào đời 1945-Ất Dậu” chị viết những dòng đau đớn: “Trời đảo điên đói/ Đất đảo điên khát/ Hai triệu người chết/ Đâu đó... những đứa trẻ như tôi ra đời./ thèm ăn từ trong bụng mẹ/ ngoác cái miệng nhăn nheo khát sữa/ những giọt sữa hiếm hoi chắt từ rau, khoai, cám, cháo./ Đói Ất Dậu/ bàng hoàng cả trăm năm sau/ năm tôi chào đời/ thiếu đói cọc còi thành xương/ bầu trời tắt lịm một ngôi sao xấu/ Vất vưởng thành người”.

Tập thơ “Thi phẩm tứ nữ họ Đoàn”.
Nỗi buồn trong thơ chị là nỗi buồn của kiếp người mang định mệnh, nỗi buồn của người nhìn thấy sự bất toàn của mình và của đời. Về hình thức, Đoàn Thị Tảo sử dụng nhiều thơ tự do, câu ngắn – dài linh hoạt, nhiều đoạn gần như lời độc thoại. Tuy nhiên, điều làm nên nhịp điệu đặc trưng lại là kỹ thuật lặp và điệp cấu trúc. Đặc biệt, thơ chị có xu hướng cắt câu để tạo khoảng trống là nơi để cảm xúc “rơi xuống”, nơi người đọc tự nghe tiếng thở dài. Bởi vậy, đọc thơ Tảo thường có cảm giác đang bước vào một căn phòng vắng ít đồ đạc nhưng vang tiếng nội tâm.
Nếu Đoàn Thị Tảo nghiêng về bi kịch nội tâm, thì Đoàn Thị Ký lại tạo ra một không gian ấm áp trong thơ gắn với người thân, với bạn bè, làng quê và Hà Nội. Thơ chị không phủ nhận nỗi buồn, nhưng nỗi buồn ấy thường được chưng cất thành tình nghĩa, thành sức bền tinh thần.
Đoàn Thị Ký sử dụng nhiều nhịp dân gian, nhất là những đoạn mang hơi lục bát, hoặc ít nhất là nhịp câu có tính hát nói mà bài thơ “Cây rơm” là một ví dụ: “Cây rơm con dấu của làng/ thanh thiên bạch nhật mùa màng uy nghi,/ Chân trời góc biển mùa đi/ Cọng rơm ở lại ôm ghì đất đai,/ Ghì như con gái, con trai/ Cái đêm hoa lý, hoa mai hồng trần/ Đời người nặng nhẹ đồng cân/ nghiêng nghiêng bồ lúa cù lần vãi gieo/ người đời có lúc trả treo/ Rơm vàng chân chỉ cù lèo, ngân nga/ Con trâu nhai lại, ổ gà…./ Rút rơm tay mẹ chia quà lới lơ”.
Điểm nổi bật của Đoàn Thị Ký là khả năng tạo duyên bằng ngôn ngữ. Giọng thơ Đoàn Thị Ký là giọng của một người đàn bà từng trải, ngôn từ thường hướng đến độ mềm, độ ôm của tiếng Việt nói sao để người đọc thấy mình được chạm vào kỷ niệm, chạm vào bếp lửa, chạm vào mùi quê.
Bốn tác giả, bốn cách đi qua tình yêu và cô đơn. Và nhờ thế, tuyển tập không chỉ là “hội ngộ họ tộc”, mà là một bản hòa tấu của bốn giọng nữ, nơi tiếng Việt được kéo căng trên nhiều cung bậc, có lúc chỉ là tiếng thở dài, có lúc là tiếng ru, có lúc là tiếng gào của bão, có lúc là ánh trăng soi xuống ly rượu.
Nguồn VNCA: https://vnca.cand.com.vn/ly-luan/tu-nu-ho-doan-i799338/











